CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HOÁ I- TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1- Tạo lập trung tâm kinh tế - xã hội của một vùng Đô thị là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế nói chung và của một vùnghay một tỉnh nói riêng. Quá trình đô thị hoá là quá trình tạo lập những trung tâm kinh tế - xã hội của một vùng hay của một địa phương. Mỗi vùng, mỗi địa phương hay trong phạm vi cả nước đều cần có những trung tâm hay những cực tăng trưởng tạo đà cho tăng trưởng kinh tế chung của vùng. Mỗi cực tăng trưởng đó là một đô thị với những quy mô, thế mạnh, và vị trí khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Ví dụ khi nói tới Tây nguyên phải kể đến thành phố Ban mê Thuật, Đà lạt, khi nói đến Đồng bằng Sông Cửu long phải kể đến thành phố Cần thơ vì đó là những trung tâm kinh tế - văn hoá - xã hội của vùng Tây nguyên, vùng Đồng bằng Sông Cửu long. Mặc dù những trường Đại học ở đây chưa phải là những trường lớn, nổi tiếng. Ngoài ra những đô thị này còn là những đô thị có vị trí quốc phòng quan trọng. Để phát triển kinh tế cân đối giữa các vùng, Việt nam đã chú trọng xây dựng hệ thống đô thị trong cả nước.
Các khu công nghiệp mới ở miền trung như Dung quất, khu đô thị mới Chân mây, Vạn tường chính là quá trình phát triển các đô thị ở miền trung. Quá trình đô thị hoá là quá trình tích luỹ các thành quả kinh tế văn hoá của một quốc gia tạo nên sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kinh tế và văn hoá. Thành phố Hà nội được bắt đầu xây dựng cách đây hàng ngàn năm, Huế, Sài gòn, hơn hai trăm năm mỗi miền có một hình thái kiến trúc riêng biểu hiện nét đặc trưng văn hoá của mình. Đó là một bộ phận tài sản quốc dân được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc Việt nam.
Nói dến Việt nam người ta không thể không nói tới Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hải phòng, Đà nẵng… và đó là những trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước và của từng vùng. 2- Thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của vùng và của cả nước Là một bộ phận của vùng lãnh thổ và với vai trò là trung tâm kinh tế, sự tăng trưởng và phát triển của một đô thị có thể làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của vùng và địa phương, đồng thời sự phát triển của hệ thống đô thị làm thay đổi cơ cấu kinh tế của cả nước một cách đáng kể. 4 Cơ cấu kinh tế theo nghĩa triết học, được hiểu như là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nền kinh tế. Những mối quan hệ cơ bản nhất hình thành trong quá trình tái sản xuất - xã hội là những mối quan hệ giữa các ngành, các khu vực và các thành phần kinh tế.
Trong nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế được xem như là sự tăng tổng việc làm, và nguồn gốc tăng trưởng là do tăng cầu lao động (do tăng cầu các hàng hóa) hoặc một sự tăng cung lao động (tạo ra do sự di chuyển lao động giữa các vùng). Kết quả của tăng trưởng là tăng tổng giá trị sản xuất (TGTSX) và tăng tổng sản phẩm trong nước (TSPTN). Vì thế, cơ cấu kinh tế đô thị cũng như của nền kinh tế quốc dân được nghiên cứu trên góc độ cơ cấu của tổng việc làm, cơ cấu của TGTSX và TSPTN theo ngành, theo khu vực và theo thành phần kinh tế. Cơ cấu ngành của kinh tế đô thị và cơ cấu ngành của vùng và nền kinh tế Ngành kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế : Ngành kinh tế là tập hợp các tổ chức, doanh nghiệp có cùng vị trí, chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội.
Sự hình thành và tồn tại các ngành có tính khách quan và tính lịch sử. Sự thay đổi cơ cấu ngành của một vùng bắt đầu từ sự thay đổi cơ cấu ngành của các khu vực trung tâm hay các đô thị trong vùng. Cơ cấu ngành của kinh tế đô thị biểu thị bằng tỷ trọng từng ngành trong kinh tế đô thị, phản ánh vai trò và những mối quan hệ giữa những tập hợp các tổ chức, doanh nghiệp cùng thực hiện một chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội đô thị. Nó phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Cơ cấu ngành kinh tế của đô thị luôn thay đổi và luôn thay đổi trước do hình thái đô thị hoá theo chiều sâu hay do sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của đô thị. Cơ cấu ngành theo tổng việc làm : Nghiên cứu cơ cấu ngành được thể hiện ở các góc độ khác nhau. Sự phân chia tổng việc làm theo ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu quan hệ hai bộ phận lao động trong kinh tế đô thị đó là mối quan hệ giữa bộ phận lao động cơ bản và lao động phục vụ của đô thị trong từng ngành kinh tế và trong toàn bộ kinh tế đô thị. Đồng thời phản ánh kết quả của quá trình đô thị hoá là tăng quy mô, thay đổi tỷ lệ lao động từng ngành trong tổng thể nền kinh tế của đô thị.
Cơ cấu ngành theo tổng giá trị sản xuất (GO) và GDP : trên địa bàn đô thị những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh quy mô kinh tế của đô thị là GO và GDP. Cơ cấu GO và GDP của đô thị phản ánh trình độ đô thị 5 hoá, vai trò từng ngành trong việc sáng tạo ra sản phẩm xã hội ở đô thị. Trong chừng mực nhất định nó phản ánh hiệu quả sản xuất ở đô thị. Vì GO và GDP trên địa bàn đô thị chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nên sự thay đổi cơ cấu GO và GDP trên địa bàn đô thị sẽ làm thay đổi một cách đáng kể cơ cấu GO và GDP trong cả nước.
Điều chỉnh cơ cấu ngành trong quá trình đô thị hoá : là quá trình chuyển dịch vốn, lao động giữa các ngành dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng kết quả sản xuất và nâng cao hiệu quả chung của đô thị. Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế đô thị theo hướng tăng tỷ trọng những ngành có năng suất lao động, hiệu quả cao là một trong các biện pháp làm tăng trưởng kinh tế đô thị. Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn về đầu tư thì thay đổi cơ cấu ngành là phương sách tốt nhất và là hướng phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cơ cấu kinh tế đô thị theo 3 khu vực Có thể phân chia toàn bộ hoạt động kinh tế đô thị thành 3 khu vực.
Khu vực I bao gồm các hoạt động nông-lâm nghiệp và thuỷ sản; khu vực II gồm các hoạt động công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồm các hoạt động dịch vụ. Khu vực II và III phải đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đô thị. Khu vực I phải giảm dần cả về tuyệt đối và tương đối. Điều đó được thể hiện qua tỷ trọng tổng việc làm và kết quả sản xuất.
Cơ cấu kinh tế theo 3 khu vực phản ánh mối quan hệ, vai trò từng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế 3 khu vực trong quá trình đô thị hoá phải theo hướng nâng cao tỷ trọng khu vực 2 và khu vực 3, điều đó phản ánh sự phát triển của đô thị theo chiều sâu. Cơ cấu kinh tế đô thị theo thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế phản ánh trình độ phát triển của quan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu trong kinh tế. Việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế đô thị được thực hiện trên cơ sở những thành phần thực tế đang tồn tại.
Nó cho biết số lượng, vai trò của từng thành phần, qua đó thấy được mức độ thống trị của quan hệ sản xuất chủ đạo trong kinh tế đô thị. Một trong những đặc trưng cơ bản của cơ cấu này là xu hướng đơn giản hoá của nó. Hiện nay Đảng và Nhà nước chủ trương nền kinh tế nhiều thành phần, để thấy rõ cơ cấu này, trong thực tế thường chia thành 3 thành phần. Đó là thành phần kinh tế Nhà nước (Quốc doanh), không phải Nhà nước (Ngoài quốc doanh) và thành phần có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên trong mỗi thành phần này ta có thể tiếp tục nghiên cứu cơ cấu bên trong của nó. Thuộc thành phần kinh tế quốc doanh bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp có chế độ sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất. Các tổ chức còn lại thuộc hình thức ngoài quốc doanh. Như vậy về mặt lý thuyết chỉ nên chia làm hai 6 thành phần mà thôi.
Để thấy được số lượng, vai trò của từng thành phần một cách cụ thể ta cần dựa vào thống kê tổng việc làm và kết quả sản xuất. Trong quá trình đô thị hoá số lượng các thành phần kinh tế trong các đô thị cũng như trong toàn bộ nền kinh tế luôn thay đổi tuỳ theo chủ trương, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên đô thị là địa bàn nhạy cảm nhất với các chính sách đó. Để đẩy nhanh quá trình đô thị hoá theo hướng tích cực Nhà nước đã có những chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế nhất định.
3- Tăng GDP của vùng và của cả nước Cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hoá làm tăng đáng kể GDP của vùng, của địa phương và của cả nước vì nội dung cơ bản của đô thị hoá là công nghiệp hoá và hiện đại hoá, tập trung lực lượng và tổ chức lại sản xuất. Quá trình đó làm tăng năng suất lao động, tăng trưởng việc làm, tức là tăng cả về chiều sâu và chiều rộng của quá trình sản xuất. Theo số liệu thống kê 1996 chỉ tính riêng 4 thành phố lớn ở Việt nam là Hà nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải phòng và Đà nẵng đã tham gia đóng góp trên 27% GDP của cả nước (xem biểu đồ 1. “Cơ cấu GDP năm 1996” và bảng 1.1 “Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các đô thị lớn năm 1996”).
Chỉ tiêu cơ cấu dân số và cơ cấu GDP theo địa bàn cho thấy dân số Hà nội chiếm 3.12% dân số cả nước nhưng sản xuất ra 6.