Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh chính sách Một vấn đề quản lý đô thị nổi bật trong những năm gần đây là giải quyết nhu cầu giao thông tĩnh, cụ thể là chỗ đậu xe ô tô phát sinh cùng với nhu cầu đi lại làm việc hàng ngày của người dân. Ý tưởng xây dựng bãi đậu xe ngầm ở TP.HCM đã được đưa ra từ thập niên 1990. Trong hơn 10 năm qua, chính quyền Thành phố đã cấp phép đầu tư nhiều dự án bãi đậu xe ở các địa điểm như công viên Lê Văn Tám, sân vận động Hoa Lư, sân khấu Trống Đồng hay sân bóng đá Tao Đàn, nhưng vẫn chưa có dự án nào được thực hiện. Đến đầu tháng 3 năm 2013, trong một cuộc họp với Sở Giao thông vận tải (SGTVT), Chủ đầu tư một số dự án thừa nhận khả năng không thể triển khai được dù đã nhiều lần trì hoãn, và chấp nhận bị rút giấy phép đầu tư hoặc chịu các hình thức xử lý khác (theo Lao Động, 2013).
Có nhiều lý do được đưa ra như: (i) vướng các thủ tục và quy định kỹ thuật, (ii) sự chưa hợp lý của các tiêu chuẩn quy định số chỗ đậu xe, (iii) các ưu đãi khuyến khích đầu tư chưa thực tế, hay (iv) công tác kiểm tra và giám sát của các cơ quan nhà nước trong thị trường chỗ đậu xe này còn nhiều bất cập. Những nguyên nhân này có thể đúng, nhưng chúng chỉ liên quan đến khía cạnh thủ tục và quy định. Xét về mục tiêu của doanh nghiệp hay các nhà đầu tư tư nhân, lý do duy nhất mà họ không thực hiện hoặc trì hoãn hay hủy bỏ một dự án nào đó là do không có hiệu quả về mặt tài chính. Trong các nguyên nhân làm cho một dự án không khả thi về mặt tài chính thì mức giá thường là yếu tố quyết định.
Trong bối cảnh chưa có bãi đậu xe ngầm nào được xây dựng trong khi nhu cầu đậu xe ở khu vực trung tâm gia tăng rất nhanh năm từ năm 2005, Chính quyền Thành phố đã cho phép đậu xe ô tô có thu phí dưới lòng đường ở một số con đường trong khu trung tâm (Quyết định 245/2005/QĐ-UBND). Lòng đường đã được sử dụng làm chỗ đậu xe với một mức giá rất thấp 5.000 đồng/xe/lượt và được duy trì trong hơn 7 năm qua, trong khi nhiều tòa nhà và trung tâm thương mại áp dụng mức giá từ 40.000 đồng/xe/lượt 2 (VOV Giao Thông, 2013).1 Mức giá đậu xe ô tô theo tháng ở một số tòa nhà khu vực trung tâm (đa phần là chỗ đậu xe ngầm) lên đến 6 triệu đồng/xe/tháng so với 1 triệu đồng/xe/tháng theo quy định của Thành phố. Đây là một mức chênh lệch rất lớn. Có thể các tòa nhà ở khu vực trung tâm có quyền lực thị trường đối với các khách hàng của họ nên họ có thể định giá cao, nhưng nếu mức giá đậu xe ở lòng đường quá thấp sẽ thu hút khách hàng của các bãi đậu xe ngầm trong tương lai.
Có thể đây là một trong những nguyên nhân mà chủ đầu tư các bãi đậu xe ngầm nhận thấy nên họ không có động cơ triển khai các dự án của mình.2 Câu hỏi nghiên cứu Từ những vấn đề trên Luận văn này tập trung vào hai câu hỏi nghiên cứu: Thứ nhất, có sự mâu thuẫn trong mức giá của một chỗ đậu xe ô tô ở khu trung tâm TP.HCM không? Thứ hai, chính sách cho việc phát triển bãi đậu xe ô tô ở khu trung tâm TP.HCM nên như thế nào? Ở câu hỏi thứ nhất, tác giả chủ yếu tập trung vào việc phân tích mức giá tài chính cho mỗi chỗ đậu xe ngầm, so sánh với mức giá đậu xe quy định trên lòng đường hiện nay để chỉ ra nguyên nhân cơ bản làm cho các bãi đậu xe ngầm chưa được xây dựng. Thêm vào đó, dưới góc độ chính sách công, tác giả cũng sẽ phân tích một cách sơ bộ chi phí kinh tế của một chỗ đậu xe để chỉ ra tính bất hợp lý trong việc quy định mức giá đậu xe trên lòng đường hiện nay. Còn câu hỏi thứ hai được giải thích qua việc phân tích các chính sách can thiệp, quản lý của chính quyền Thành phố trên cơ sở lý thuyết kinh tế học vi mô về quan hệ cung cầu của hàng hóa trên thị trường cạnh tranh.3 Phạm vi nghiên cứu Luận văn phân tích chỗ đậu xe ô tô trong các bãi đậu xe ngầm ở khu trung tâm thành phố. Đầu tiên, chọn xe ô tô vì hiệu quả chuyên chở người của phương tiện này không cao 1 Tổng hợp của tác giả từ các giao dịch cho thuê văn phòng và thông tin niêm yết giá giữ xe ở các tòa nhà văn phòng, khách sạn trong khu trung tâm thương mại tài chính (CBD).
3 nhưng lại chiếm nhiều diện tích giao thông (Huỳnh Thế Du, 2010).2 Hơn nữa, đầu tư một bãi đậu xe ô tô cũng bị ràng buột nhiều điều kiện như diện tích đất tối thiểu, địa điểm, tiềm lực tài chính của chủ đầu tư, thời gian triển khai kéo dài cùng các quy định quản lý và tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe cần tuân thủ. Tiếp đến, chọn bãi đậu xe ngầm là do các công trình ở khu trung tâm bị giới hạn bởi chiều cao tầng, được xây dựng trên diện tích đất nhỏ hẹp và có chi phí cơ hội của đất cao, phù hợp với các chính sách quy hoạch, quản lý phát triển không gian ngầm của chính quyền Thành phố trong những năm gần đây. Bãi đậu xe ngầm cũng chính là nguồn cung chủ yếu ở khu trung tâm đầu những năm 1990, giai đoạn bắt đầu bùng nổ xây dựng khách sạn và cao ốc, cho đến thời điểm hiện tại. Sau cùng, chọn phạm vi 930ha ở khu trung tâm hiện hữu (Quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 của UBND TP.HCM) vì nơi đây tập trung nhiều nhà cao tầng với mật độ dày đặc nên nhu cầu đậu xe càng thêm nổi bật (Dư Phước Tân, 2011).4 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với các phân tích định lượng trên cơ sở các thông tin trong phạm vi TP.HCM để mô tả, phân tích các dữ liệu và sự kiện dưới nền tảng cơ sở lý thuyết nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.
Từng bước tính toán các chi phí liên quan, tác động của ngoại tác cùng đặc thù khai thác cho một chỗ đậu xe điển hình, để từ đó tính ra phí đậu xe mỗi lượt, ban ngày hoặc ban đêm, hoặc theo phí giữ xe hàng tháng hay theo giờ.5 Cấu trúc của luận vặn Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, phần còn lại của Luận văn được trình bày trong 4 chương tiếp theo. Khung phân tích sẽ được bàn đến trong Chương 2. Chương 3 trình bày các bước để xác định các chi phí tài chính và chi phí kinh tế của việc xây dựng bãi đậu xe ngầm để chỉ ra mức giá hợp lý cả về phương diện tài chính lẫn kinh tế. Chương 4 thảo luận 2 Theo Quy chuẩn Quy hoạch Xây dựng Việt Nam, 1 chỗ đậu xe hơi chiếm 25m2 so với 0,3m2 của một xe máy.
Đồng thời, tham khảo phân tích của Huỳnh Thế Du thì một ô tô chở được 2 người so với 1,2 người của một xe máy. 3 Nghiên cứu của Dư Phước Tân cho thấy các quận trung tâm TP.HCM có tỷ trọng xe ô tô đăng ký mới chiếm gần 70% so với toàn thành phố và cao hơn hẳn xe máy trong giai đoạn 5 năm từ 2005 đến 2010. 4 về các chính sách quản lý bãi đậu xe hiện tại. Kết luận, kiến nghị chính sách cũng như các hạn chế của đề tài được trình bày ở chương cuối cùng.
5 Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Quan hệ cung cầu trong thị trường bãi đậu xe Giả định thị trường chỗ đậu xe trong khu trung tâm TP.HCM là cạnh tranh với nhiều người bán, người mua; nó chỉ bao gồm hai hàng hóa thay thế nhau là chỗ đậu xe lòng đường và chỗ đậu xe ngầm. Theo Pindyck và Rubinfeld (2001), cân bằng cung cầu trên thị trường này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như chính sách quản lý, điều tiết cùng quy định trợ cấp ưu đãi của nhà nước và cả từ sự thay đổi giá của các hàng hóa thay thế. Trong thị trường cạnh tranh thì sự can thiệp của nhà nước thông qua các quy định tỏ ra kém hiệu quả, và cân bằng thị trường chủ yếu đến từ các mức giá của hàng hóa trong thị trường đó. Với chỗ đậu xe trong khu trung tâm thì một sự giảm giá chỗ đậu xe lòng đường sẽ kéo theo sự giảm cầu của chỗ đậu xe ngầm tương ứng và ngược lại.
Hình 1 – Tác động của hàng thay thế trong thị trường chỗ đậu xe S* D*1 D* Giá Giá D P*0 A* S S1 B* P*1 A P0 B P1 0 Q0 Q1 Số chỗ 0 Q*1 Q*0 Số chỗ đậu xe đậu xe Chỗ đậu xe lòng đường Chỗ đậu xe ngầm Nguồn: Pindyck và Rubinfeld (2001), và phân tích của tác giả. Hình 1 cho thấy khi giá chỗ đậu xe lòng đường được duy trì ở mức thấp P1 so với mức giá cân bằng P0, thì lượng cầu chỗ đậu xe lòng đường cũng tăng lên từ Q0 đến Q1. Trong ngắn hạn thì tổng cầu ở thị trường chỗ đậu xe là không đổi; do đó sự gia tăng cầu của chỗ đậu xe 6 lòng đường được bù đắp bằng sự giảm cầu của chỗ đậu xe ngầm, thể hiện qua đường cầu dịch chuyển sang trái từ D* sang D*1.2 Tính toán chi phí chỗ đậu xe Mục tiêu chính của Luân văn là giải thích nguyên nhân tại sao trong suốt hơn một thập kỷ qua vẫn chưa có bãi đậu xe nào được xây dựng và thảo luận các vấn đề liên đến chính sách quản lý chỗ đậu xe ở khu vực trung tâm Tp.HCM hiên nay. Về nguyên tắc cũng như lý tưởng nhất là cần có một ước tính cụ thể chi phí kinh tế của một chỗ đậu xe.
Tuy nhiên, do giới hạn nguồn lực luận văn này chỉ tập trung vào việc tính toán cụ thể các mức giá tài chính để so sánh với mức giá đậu xe trên lòng đường hiện nay. Sau đó, sẽ có một phần thảo luận về các chi phí ngoại tác và giả định rằng mức gia tài chính bằng với mức giá kinh tế để đưa ra một ước tính sơ bộ. Trên thực tế, hệ số chuyển đổi từ giá tài chính sang giá kinh tế chủ yếu dao động từ 0,95-1,00, do vậy, kết quả phân tích và bình luận chính sách sẽ không thay đổi giữa việc tính toán cụ thể các chi phí kinh tế và giả định chi phí kinh tế bằng chi phí tài chính.