Chương 1. Những vấn đề lý luận của QLNN về TTĐT; 9 Chương 2. Thực trạng QLNN về TTĐT trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện QLNN về TTĐT trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về trật tự đô thị 1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về trật tự đô thị Để làm rõ được nội hàm của khái niệm “QLNN về TTĐT”, trước hết phải làm rõ nội hàm của khái niệm “quản lý nhà nước” và khái niệm “trật tự đô thị. Thứ nhất, về khái niệm QLNN.
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau. Với cách hiểu thông thường thì quản lý có nghĩa là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định [59, tr. Quản lý cũng được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân nhằm hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan [78]. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và s dụng pháp luật làm công cụ để điều chỉnh hành vi của con người trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ QLNN được hiểu theo hai phạm vi: nghĩa rộng và nghĩa hẹp [72, tr. Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước, tức là cả ba hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. QLNN theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện mà 11 chúng được gọi là cơ quan hành chính nhà nước và một số chủ thể khác được Nhà nước trao quyền.
Đó là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và luật đó, vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành. Do đó, QLNN theo nghĩa rộng bao hàm QLNN theo nghĩa hẹp. Hiện nay trong khoa học Quản lý và khoa học Luật Hành chính, cách hiểu QLNN theo nghĩa hẹp là cách hiểu phổ biến. Như vậy, có thể hiểu: QLNN là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính chính nước và các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền, trên cơ sở và để thi hành hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên nhằm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của công dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Thứ hai, về khái niệm TTĐT. “Trật tự đô thị” là một cụm từ được s dụng mang tính ước lệ hơn là một khái niệm có nội hàm và ngoại diện được xác định rõ ràng. Điều này được chứng minh thông qua việc cụm từ “trật tự đô thị” không xuất hiện độc lập trong các từ điển, kể cả các từ điển online như: https://vi.org/, http://tratu.vn/, http://tratu. Cụm từ “trật tự đô thị” hầu như cũng không xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương.
Tuy nhiên, cụm từ này lại xuất hiện trong nhiều văn bản pháp luật của một số chính quyền địa phương. Nhưng đáng tiếc là hầu như các văn bản này đều không định nghĩa khái niệm “trật tự đô thị”. Tìm hiểu một số văn bản pháp luật có liên quan của một số địa phương như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam, Nghệ An, Lào Cai [79] … cho thấy cụm từ “trật tự đô thị” thường được hiểu đồng nhất với các vấn đề về trật tự lòng lề đường ở các đô thị, đặc biệt là trật tự vỉa hè, về quản lý người bán hàng rong, các chợ cóc, chợ tạm, các hàng quán… Thời gian qua, đặc biệt từ sau lần ra quân lập lại trật tự vỉa hè của chính quyền Quận 1 (Thành phố Hồ Chí Minh) vào cuối năm 2017 thì các thông tin có liên quan đến “trật tự đô thị” được các cơ quan báo chí đưa tin rất nhiều. Tuy vậy, vấn đề 12 cũng chỉ xoay quanh hoạt động lập lại trật tự vỉa hè và các vấn đề có liên quan đến trật tự vỉa hè tại các đô thị.
Để xác định nội hàm của cụm từ “trật tự đô thị”, thiết nghĩ cần làm rõ khái niệm trật tự và khái niệm đô thị, vì hai khái niệm này là hai khái niệm độc lập, được ghép chung để hình thành cụm từ “trật tự đô thị”. “Trật tự” theo từ điển tiếng Việt được hiểu theo hai nghĩa [71, tr.1030]: (i) Sự sắp xếp theo một thứ tự, một quy tắc nhất định. Ví dụ: Bàn ghế kê có trật tự; trật tự các từ trong câu; rút lui có trật tự; (ii) Tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật. Ví dụ: Giữ gìn trật tự an ninh; thiết lập trật tự xã hội mới.
Về khái niệm “đô thị”, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Dựa vào các định nghĩa nêu trên có thể hiểu “trật tự đô thị” theo hai nghĩa sau: (i) TTĐT là việc sắp xếp hoạt động của các cá nhân, tổ chức và các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, môi trường… tại đô thị theo một thứ tự, một quy tắc nhất định; (ii) TTĐT là tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật trong các hoạt động của các cá nhân, tổ chức và các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, môi trường… tại đô thị. Như vậy, với cách hiểu (i), TTĐT là hành động của một số chủ thể, thường là những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành sắp xếp lại các hoạt động của các cá nhân, tổ chúc và các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, môi trường… tại các đô thị; với cách hiểu (ii), TTĐT là một trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật trong các hoạt động của các cá nhân, tổ chức và các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, môi trường… tại các đô thị. Dựa vào cách hiểu khái niệm QLNN và khái niệm TTĐT đã trình bày ở trên, có thể hiểu: QLNN về TTĐT là các hoạt động mang tính chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền, trên cơ 13 sở và để thi hành hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên nhằm sắp xếp lại và đảm bảo sự ổn định, có tổ chức, có kỷ luật trong các hoạt động của các cá nhân, tổ chức và các vấn đề quan trọng như quy hoạch, hạ tầng, môi trường… tại đô thị, qua đó góp phần góp phần bảo vệ quyền và lợi ích pháp của cá nhân, tổ chức, đảm bảo sư ổn định và phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, vì QLNN về TTĐT là một khái niệm rộng và phức tạp, bao hàm nhiều lĩnh vực QLNN như: Quy hoạch, hạ tầng, môi trường, giao thông, đất đai, nhà ở, xây dựng, quảng cáo, an ninh…, đồng thời phù hợp với phạm vi đối tượng nghiên cứu đã được xác định, dưới đây luận văn chỉ đề cập và nghiên cứu 03 trong rất nhiều vấn đề thuộc nội hàm của công tác QLNN về TTĐT, gồm: (i) QLNN về TTXD đô thị; (ii) QLNN về trật tự ATGT đường bộ đô thị; (iii) QLNN về trật tự quảng cáo ngoài trời. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về trật tự đô thị Quản lý nhà nước về TTĐT là một trong các lĩnh vực của QLNN. Vì vậy, QLNN về TTĐT cũng phải tuân thủ các nguyên tắc chung trong hoạt động. Tuy nhiên, QLNN về TTĐT cũng có các đặc thù riêng.
Do đó, QLNN về TTĐT còn phải tuân thủ thêm các nguyên tắc riêng mang tính đặc thù trong lĩnh vực TTĐT. Thứ nhất, các nguyên tắc chung trong QLNN mà QLNN về TTĐT phải tuân thủ: Một là, nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trong QLNN. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này được quy định tại Điều 4 Hiến pháp 2013. Theo đó, khoản 1 Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Hai là, nguyên tắc Nhân dân tham gia vào hoạt động QLNN. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này là Điều 2 và Điều 6 Hiến pháp 2013. Theo đó, khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác.
Như vậy, trong hoạt 14 động QLNN nói chung, Nhân dân phải được biết, được bàn, được quyết định, được làm và được hưởng thành quả từ hoạt động QLNN. Ba là, nguyên tắc QLNN bằng Hiến pháp và pháp luật. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này là Điều 8 Hiến pháp 2013. Theo đó, khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Vì vậy, trong hoạt động QLNN các chủ thể buộc phải tuân thủ nghiêm minh các quy định có liên quan của Hiến pháp và pháp luật, s dụng Hiến pháp và pháp luật làm công cụ cơ bản nhất trong hoạt động quản lý. Bốn là, nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động QLNN.