CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HOÁ, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÔ THỊ HOÁ 1. Khái niệm và biểu hiện của đô thị hóa 1. Khái niệm về đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm về đô thị a.
Khái niệm Trong lịch sử nhân loại, từ ngàn xưa đô thị đã được ghi nhận là nơi tập trung dân cư đông đúc và là nơi tập trung sản xuất cao độ. Ngày nay, quá trình phát triển đô thị diễn ra rất nhanh chóng, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của vùng, của địa phương và ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, khái niệm đô thị được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng. Đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong một phạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người.
“Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành. Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó” (Marx và F. Enghels, quyển 46, phần I). Trên góc độ quản lý kinh tế - xã hội, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện.
(Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ Xây Dựng và Ban tổ chức cán bộ của chính phủ) Theo Nghị định số 42/2009/NĐ – CP ngày 07/5/2009 về việc phân loại đô thị, Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Đô thị ở nước ta là một điểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụ thể sau: - Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. - Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4.000 người trở lên. - Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất, đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
4 5 - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% tổng số lao động. - Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng theo quy định đối với từng loại đô thị. - Có kiến trúc, cảnh quan đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị, có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Phân loại đô thị Theo Nghị định 42-NĐ-CP, để phân loại đô thị sử dụng những tiêu chí sau: 1) Các yếu tố cấu thành đô thị: quy mô dân số, mật độ dân số, vai trò, chức năng đô thị trong hệ thống đô thị, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp.
2) Các chỉ tiêu phát triển tương lai của đô thị được xác định trên cơ sở các đồ án quy hoạch tổng thể đã được cấp có thẩm quyền xem xét, hoặc phê duyệt. 3) Thực tiễn tình hình kinh tế, xã hội và tính đặc thù của từng đô thị. Hệ thống đô thị Việt Nam hiện nay được phân thành 6 loại: Đô thị loại đặc biệt: Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, cú vai trũ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị được xếp vào loại đặc biệt của Việt Nam.
Đô thị loại 1: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Đô thị loại 2: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, cú vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liờn tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước Đô thị loại 3: Đụ thị với chức năng là trung tâm chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thụng, giao lưu trong tỉnh hoặc vựng liờn tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh. Đô thị loại 4: Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu 5 6 trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh. Đô thị loại 5: Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một huyện hoặc một cụm xã.
Khái niệm về đô thị hoá Trên cơ sở khái niệm về đô thị, thì đô thị hoá là quá trình biến đổi xã hội về mặt hình thái cư trú cũng như bản chất xã hội. Tuy nhiên đô thị hoá có thể được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Trên quan điểm xã hội: Đô thị hoá là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hoá cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động.
Trên quan điểm phát triển vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Điểm nổi bật của nó là sự đô thị hoá nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn. Trên quan điểm nền kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu. Trong thực tế có những khi đô thị hoá mang tính giả tạo, đó là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến đặc biệt là từ nông thôn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuôc sống v.v… Tóm lại đô thị hoá là quá trình phức tạp có thể định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.
Một cách tổng quát : đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô và mật độ dân số. Những biểu hiện và đặc điểm của đô thị hóa 1. Những biểu hiện của đô thị hoá Thứ nhất, tỷ lệ dân số đô thị cao và tăng nhanh Đô thị trên thế giới tăng nhanh chóng cả về số lượng đô thị, số dân đô thị và tỷ lệ dân số đô thị. Các quốc gia kinh tế phát triển có tỷ lệ dân số sống ở các đô thị cao hơn các nước đang phát triển.
Nhiều quốc gia đã đạt khoảng 90% dân số đô thị (Anh, Đức, Ôx-trây-li-a, Nhật Bản, .) và có những quốc gia 100% dân số sống ở đô thị (Singapo, 6 7 Mônacô). Tỷ lệ dân số đô thị ở các nước kinh tế phát triển đã đạt 52,6% (năm 1950), trong khi đó, các nước các nước đang phát triển chỉ đạt 17,6% (năm 1950). Đến năm 2009, tỷ lệ dân số đô thị ở các nước kinh tế phát triển tăng lên, đạt 74,9%, với dân số đô thị từ 0,43 tỷ người (năm 1950) tăng lên 0,92 tỷ người (năm 2009), trong khi đó, tỷ lệ dân số đô thị ở các nước đang phát triển chiếm 44,6% (năm 2009), với dân số đô thị tăng nhanh, từ 0,30 tỷ người (năm 1950) tăng lên 2,50 tỷ người (năm 2009). Và dự báo đến năm 2050, tỷ lệ dân số đô thị của các nước phát triển đạt 86,2%, còn các nước đang phát triển đạt 65,9% (Nguồn: UN, 2010).1: Dân số và dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát triển, 1950 - 2050 (tỷ người) Năm 1950 1975 2009 2025 2050 Dân số thế giới 2,53 4,06 6,83 8,01 9,15 - Các nước kinh tế phát triển 0,81 1,05 1,23 1,28 1,28 - Các nước đang phát triển 1,72 3,01 5,60 6,73 7,87 Dân số đô thị thế giới 0,73 1,51 3,42 4,54 6,29 - Các nước kinh tế phát triển 0,43 0,70 0,92 1,01 1,10 - Các nước đang phát triển 0,30 0,81 2,50 3,52 5,19 Nguồn: Liên Hiệp Quốc, 2010, 2025 (dự báo) Bảng 1.1 cho thấy, dân số đô thị trên thế giới, của các nước kinh tế phát triển và của các nước đang phát triển đều tăng liên tục.
Dân số đô thị của thế giới tăng từ 0,73 tỷ người (năm 1950) tăng lên 3,42 tỷ người (năm 2009). Trong giai đoạn 2009 - 2050, dự báo dân số đô thị trên thế giới tiếp tục tăng, tăng từ 3,42 tỷ người (năm 2009) tăng lên 6,29 tỷ người (năm 2050).