CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Phát triển bền vững trong đó có PTBV về kinh tế là một trong các mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ. Để thực hiện được mục tiêu đó, các quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ đều phải huy động tối đa các nguồn lực của mình, bao gồm cả nguồn lực tài chính, vật chất và nguồn nhân lực để thực hiện đầu tư phát triển. Lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế đã chứng minh đầu tư là nhân tố quan trọng, là chiếc “chìa khoá vàng” để tăng trưởng và PTBV về kinh tế. Mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng và PTBV về kinh tế được đề cập trong một số các nghiên cứu trong và ngoài nước như sau: 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 1.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế: Đầu tiên là các học thuyết cơ bản, đặt nền tảng cho các nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế sau này: - Mô hình Harrod - Domar: Vào những năm 40, dựa vào lý thuyết kinh tế của J.
Keynes, hai nhà kinh tế học Roy Harrod của Anh và Evsey Domar của Mỹ nghiên cứu độc lập và cùng đưa ra mô hình giải quyết giữa tăng trưởng và việc làm ở các nước phát triển. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước này để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu vốn đầu tư [77]. Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó. Nếu gọi đầu ra là Y, tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra là g: s g = (1.1) k Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong đầu tư sẽ là: 7 Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm (St = It), do đó cũng có thể viết: Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên It = Kt.
Nếu gọi k là tỷ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có: Do đó chúng ta có: s g= (1.2) ICOR Ở đây k (ICOR) được gọi là hệ số gia tăng vốn đầu ra. Như vậy, nếu ICOR không đổi thì tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. Mô hình này đã chỉ rõ mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng nhưng đã đơn giản hoá mối quan hệ giữa chúng. Đầu tư là điều kiện cần cho tăng trưởng kinh tế nhưng chưa phải là điều kiện đủ.
Tác giả đã bỏ qua việc xem xét vấn đề cách thức hay hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, mô hình này chưa giải thích được vì sao các quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm trong thu nhập như nhau nhưng lại có tốc độ tăng trưởng khác nhau. - Mô hình Robert Solow (1956): Năm 1956, cùng với T. Swan, nhà kinh tế theo trường phái tân cổ điển Robert Solow đã đưa ra cách lý giải về nguồn gốc của tăng trưởng với việc bổ sung một nhân tố mới, đó là công nghệ.
Với công trình này, năm 1987, Solow được trao Giải thưởng Nobel về Kinh tế. Mô hình này còn gọi là Mô hình tăng trưởng tân cổ điển vì một số giả thiết của mô hình dựa theo lý luận của kinh tế học tân cổ điển. Mô hình này còn có cách gọi khác, đó là Mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong. Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững [77].
8 Với mô hình của mình, Solow khẳng định việc tăng vốn đầu tư đổi mới công nghệ là rất quan trọng và sự tăng thêm vốn cũng chứa đựng yếu tố tiến bộ kỹ thuật, công nghệ. Ở trạng thái dừng, tỉ lệ tăng trưởng của sản lượng chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ. Solow đã khắc phục được điểm hạn chế trong mô hình của Harodd- Domar, khẳng định lại một lần nữa để đạt được tăng trưởng kinh tế liên tục, không chỉ dựa vào quy mô đầu tư mà yếu tố công nghệ cũng là cần thiết. - Mô hình tăng trưởng nội sinh: Vào giữa những năm 1980, một số nhà kinh tế bắt đầu phát triển các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh do họ nhận thấy sự bế tắc trong cách giải thích tăng trưởng của trường phái tân cổ điển.
Kết luận của trường phái tân cổ điển rằng tăng trưởng kinh tế dài hạn chỉ phụ thuộc vào tiến bộ kỹ thuật và đây là biến ngoại sinh. Việc này làm lu mờ vai trò của chính sách kinh tế đối với tăng trưởng và làm các nhà kinh tế không biết làm cách nào thúc đẩy tăng trưởng bằng chính sách kinh tế. Mô hình tăng trưởng nội sinh cho phép quá trình tích luỹ vốn và tăng trưởng được duy trì ngay cả trong trường hợp không có tiến bộ kỹ thuật. Trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, đáng chú ý nhất là mô hình R&D (nghiên cứu và phát triển).
Mô hình tăng trưởng dựa trên R&D có điểm giống với mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Đó là cho rằng tăng trưởng dài hạn phụ thuộc vào tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, trong mô hình này, tiến bộ kỹ thuật không còn là yếu tố ngoại sinh mà là yếu tố nội sinh. Đầu tư vào R&D là yếu tố chính dẫn đến tăng trưởng.
Để kích thích đầu tư vào R&D thì chính sách nhà nước phải đảm bảo lợi tức cho lĩnh vực này bằng cách tăng cường đảm bảo quyền sử hữu trí tuệ. Các sản phẩm của R&D thường là các bí quyết công nghệ và không có khả năng loại trừ (nonrivalry) - nghĩa là việc sử dụng của người này không loại trừ việc sử dụng đồng thời của người khác. Do đó, nếu không có quyền sử hữu trí tuệ thì sẽ không đảm bảo được nhà đầu tư thu được lợi nhuận từ R&D [73]. - Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại của P.
Samuelson-hỗn hợp. Các nhà kinh tế học của trường phái hỗn hợp, tiêu biểu là P. Samuelson, ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp. Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp ở những mức độ khác nhau.
Vì 9 thế, đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại. Một trong các nội dung cơ bản của nó là: Thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ điển, cho rằng, tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đó là tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ. Thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuât Cobb-Douglass về sự tác động của các yếu tố trên với tăng trưởng [73]. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế.
Cho rằng tiết kiệm là nguồn gốc của vốn đầu tư và là chìa khóa của sự tăng trưởng. Phát triển từ những mô hình nghiên cứu nền tảng này, rất nhiều các nghiên cứu cũng đã tiếp tục xem xét mối quan hệ đầu tư- tăng trưởng dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể: - John Dennis Gould (1972) trong tác phẩm “Economic growth in history: survey and analysis”: khi nghiên cứu một chuỗi những học thuyết về tăng trưởng và nguồn gốc của nó đã chỉ ra những nhân tố đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng bao gồm: nông nghiệp, tiết kiệm và đầu tư, thương mại quốc tế, quá trình công nghiệp hoá, tiến bộ công nghệ. Như vậy, ngoài các yếu tố đầu vào truyền thống, tác giả đã bổ sung thêm một số yếu tố đầu vào mới có tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Trong đó, tác giả vẫn đồng ý rằng tiết kiệm và đầu tư là đặc biệt quan trọng cho một quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng cao [87]. - Sung Sang Park (1992) trong mô hình Sung Sang Park cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quá trình tích lũy vốn sản xuất và quá trình tích lũy trình độ công nghệ. Tích lũy vốn sản xuất được thực hiện một cách liên tục nhờ vào hoạt động đầu tư, trong khi tích lũy công nghệ phụ thuộc vào đầu tư phát triển con người. Sung Sang Park đã kế thừa và phát triển lý thuyết Harrod - Domar.
Lý thuyết của Park đã nêu thêm một điểm mới là tích lũy công nghệ phụ thuộc vào đầu tư phát triển con người, hay nói cách khác là tăng vốn con người. Như vậy muốn thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nên đầu tư vào con người hay chính là đầu tư phát triển nguồn nhân lực [63].2 Các nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững và phát triển bền vững về kinh tế. - Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” đưa ra năm 1987 đã phân tích các nguy cơ và thách thức đe dọa sự PTBV của các quốc gia trên thế giới. Trong đó quan trọng nhất phải kể tới là khái niệm về PTBV là: “sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây trở ngại cho các thế hệ mai sau” đang được sử dụng rộng rãi cho tới hiện nay.
Với việc đưa ra khái niệm này đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu bản chất và các tiêu chí đánh giá PTBV ở các quốc gia [97]. - Kinh tế học bền vững - lý thuyết kinh tế và thực tế của PTBV của tác giả Holger Rogal nghiên cứu lý luận và thực tiễn của PTBV dưới góc độ kinh tế học bền vững, tìm kiếm những quan điểm về PTBV trong kinh tế học truyền thống như kinh tế học truyền thống của David Ricardo, Adam Smith., kinh tế học tân cổ điển, kinh tế môi trường tân cổ điển. Trên cơ sở đó tác giả cũng đưa ra cơ sở cho các chính sách PTBV của một quốc gia bao gồm: chính sách kinh tế bền vững, chính sách năng lượng bền vững, chính sách giao thông bền vững. - Giới thiệu về PTBV của Peter P.
Jalal và John A.