Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, và không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hƣớng tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận trong vùng. Nhà nƣớc tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trƣởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tƣ thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn. Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nƣớc, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thƣơng mại, đầu tƣ, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trƣờng và quốc phòng an ninh. Các vùng kinh tế trọng điểm đƣợc Đảng và Nhà nƣớc xác định là các vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng khác trên cả nƣớc.
Hiện nay, trên cả nƣớc có 4 vùng kinh tế trọng điểm là vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long với tổng số 24 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Các vùng kinh tế trọng điểm có diện tích trên 90. Không thể không phủ nhận sự đóng góp vô cùng quan trọng của chi đầu tƣ phát triển, nhất là với một nƣớc đang thực sự cần nền tảng kiến trúc hạ tầng nhƣ nƣớc ta song đầu tƣ công sao cho hiệu quả vẫn còn nhiều vấn đề để bàn. Một trong những vấn đề đó là 1 đầu tƣ công có nguồn gốc từ nguồn vốn đi vay, dẫn đến nợ công.
Đa phần vốn vay nợ công chiếm một tỷ lệ rất quan trọng trong vốn vay đầu tƣ phát triển. Nhu cầu đầu tƣ phát triển của toàn bộ nền kinh tế là rất lớn. Có nhiều lĩnh vực đầu tƣ có thể huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc để đầu tƣ phát triển nhƣng có một số lĩnh vực đầu tƣ không thể trông chờ vào các nhà đầu tƣ tƣ nhân do nhu cầu vốn lớn, khả năng thu hồi chậm, lợi nhuận thấp buộc chính phủ phải sử dụng nguồn tài chính công để đầu tƣ. Ngoài ra chính phủ cần thiết phải chi đầu tƣ còn nhằm mục tiêu tạo đòn bẩy để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bền vững và xử lý những bất ổn khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc.
Cũng nhƣ vậy các vùng kinh tế trọng điểm cũng cần nhu cầu đầu tƣ phát triển rất lớn để các vùng kinh tế trọng điểm luôn là đầu tàu dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế phát triển theo. Đề tài : “ Ảnh hƣởng của chi đầu tƣ phát triển đến tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam” đƣợc nghiên cứu tạo thêm một bằng chứng thực nghiệm, làm luận cứ khoa học. Nghiên cứu sẽ đánh giá mối quan hệ tƣơng quan giữa chi đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế ở các vùng đầu tàu này. Qua đó kiểm chứng mức độ ảnh hƣởng của chi đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế các vùng kinh tế trọng điểm có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn và chính sách đúng về chi đầu tƣ phát triển, từ đấy xây dựng chính sách phù hợp để chi đầu tƣ phát triển sao cho hợp lý và hiệu quả hơn.2 Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau : i) Chi đầu tƣ phát triển ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam? ii) Đƣa ra các chính sách và giải pháp phù hợp với việc phân bổ để chi đầu tƣ phát triển có hiệu quả nhất với tăng trƣởng kinh tế ? 1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2 Nghiên cứu đƣợc tiến hành nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra nhƣ sau: i) Kiểm chứng ảnh hƣởng của chi đầu tƣ phát triển đối với tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh thành thuộc các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015.
ii) Dựa trên những kết quả tìm đƣợc gợi ý chính sách liên quan đến chi đầu tƣ phát triển nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế các tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng của nghiên cứu này là chi đầu tƣ phát triển, tăng trƣởng kinh tế, mối quan hệ giữa chi đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế, và tác động của chi đầu tƣ phát triển đến tăng trƣởng kinh tế các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Nghiên cứu thực hiện với số liệu của 24 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Về thời gian: Dựa trên dữ liệu thu thập đƣợc từ nguồn Tổng Cục Thống Kê, nghiên cứu xác định giai đoạn thực hiện từ năm 2007 đến năm 2015. Tổng mẫu quan sát: 216 quan sát thực tế.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phƣơng pháp định lƣợng để đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trƣởng kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam nhƣng chú trọng nhất là tác động của yếu tố chi đầu tƣ phát triển.
Các biến, các chỉ số lấy từ báo cáo thống kê của Tổng Cục Thống Kê. Dữ liệu nghiên cƣú là dữ liệu bảng gồm 216 quan sát của 24 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng kinh tế 3 trọng điểm (KTTĐ) là KTTĐ Bắc Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam và KTTĐ vùng Đồng bằng sông Cửu Long trực thuộc trung ƣơng trong thời gian 9 năm ( 2007 đến 2015). Với kết quả tìm đƣợc từ mô hình hồi quy, nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hồi quy để làm rõ vấn đề và giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.6 Kết cấu của luận văn Luận văn bao gồm 5 chƣơng với các nội dung chủ yếu sau: Chƣơng 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lƣợc vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Chƣơng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Trình bày phân tích đánh giá chi đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế tại các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết qủa phân tích các mô hình kinh tế lƣợng. Chƣơng 5: Kết quả và kiến nghị: Trình bày kết luận và gợi ý chính sách liên quan. Nêu hạn chế và hƣớng nghiên cứu tiếp theo của nghiên cứu.7 Ý nghĩa đóng góp của đề tài: Qua thực hiện tuần tự các bƣớc trong phƣơng pháp nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu.
Trong đó, chi đầu tƣ phát triển có tác động tích cực đến sản lƣợng của nền kinh tế ở các tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Bên cạnh đó, vốn đầu tƣ từ khu vực FDI, lực lƣợng lao động trên 15 tuổi cũng có đóng góp tích cực đến sản lƣợng của mỗi tỉnh, thành phố. Bằng phƣơng pháp phân tích định lƣợng, nghiên cứu cho thấy chính sách tài khóa- trong đó chính sách chi đầu tƣ phát triển của chính phủ cũng nhƣ chính quyền các địa phƣơng có tác động 4 thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu phù hợp và minh chứng tính đúng đắn của lý thuyết Keynes trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu này, ta thấy ý nghĩa của đề tài vận dụng các kiến thức về kinh tế học, đặc biệt kinh tế lƣợng, để phân tích tác động của chi đầu tƣ phát triển ở các tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm. Tìm ra tác động, ảnh hƣởng của chi đầu tƣ phát triển đối với tăng trƣởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố làm cơ sở khoa học để các tỉnh, thành phố tham khảo trong quá trình định hƣớng phân bổ chi ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản ở địa phƣơng phục vụ công tác quản lý và điều hành ngân sách đƣợc tốt hơn thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trong chƣơng này, trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế học liên quan đến tăng trƣởng kinh tế, chi đầu tƣ phát triển và tác động của chi đầu tƣ phát triển lên tăng trƣởng kinh tế. Đồng thời trình bày các nghiên cứu khác có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trƣớc, đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết.1 Tăng trƣởng Theo Perkins và ctg (2006), thuật ngữ tăng trƣởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi lúc đƣợc dùng lẫn lộn với nhau, tuy nhiên về bản chất chúng khác biệt nhau. Tăng trƣởng kinh tể chỉ sự gia tăng thu nhập/ sản phẩm bình quân đầu ngƣời hoặc thu nhập/ sản phẩm quốc dân. Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, bằng bất cứ cách nào, và cùng với nó là thu nhập trung bình tăng lên, thì quốc gia đó đạt đƣợc tăng trƣởng kinh tế. Phát triển kinh tế có nội hạm rộng hơn, đặc biệt nó đề cấp đến những cải thiện trong lĩnh vực y tế, giáo dục và những khía cạnh khác trong phúc lợi con ngƣời.
Theo Simon Kuznet (1966), trích bởi Nguyễn Phú Tụ & Huỳnh Công Minh, 2010) thì tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu ngƣời hoặc nhân công. Theo Hồ Đức Hùng và cộng sự (2005), tăng trƣởng kinh tế là tăng thêm hay là sự gia tăng về quy mô sản lƣợng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sản lƣợng ở đây đƣợc hiểu là tổng sản lƣợng hay sản lƣợng bình quân đầu ngƣời. Tăng tổng sản lƣợng đƣợc hiểu là tăng trƣởng theo chiều rộng và tăng sản lƣợng bình quân đầu ngƣời đƣợc hiểu là tăng trƣởng theo chiều sâu.