Chương 1: Chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Cơ cấu chi tiêu công tại Việt Nam giai đoạn 1994 – 2011. Chương 3: Mô hình và kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị về mặt chính sách.
4 HƯƠN 1 H ÊU ÔN ĂN RƯỞN K NH Ế 1.1 ịnh nghĩa về chi tiêu công. Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện chức năng vốn có của Nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng (Dương Thị Bình Minh, 2005). Theo quan điểm của các nhà kinh tế h c cổ điển, hoạt động của nhà nước không mang lợi cho quốc gia về mặt kinh tế. Cho nên, chi tiêu công là những khoảng chi có tính chất tiêu dùng.
Vì vậy, cần phải giới hạn tối đa m i khoản chi tiêu của Chính phủ để tránh làm lãng phí nguồn lực của đất nước. Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại cho thấy chi tiêu công không hoàn toàn mất đi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò là trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập; thông qua các khoản chi tiêu công, Nhà nước “bơm ra” lại cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi của xã hội từ các khoản nộp thuế bằng việc cung cấp những hàng hóa công cần thiết mà khu vực tư không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả. Với cơ chế này, Nhà nước thực hiện tái phân phối thu nhập của xã hội công bằng hơn, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng ổn định (Sử Đình Thành, 2005).
Chi tiêu công trực tiếp trả lời câu hỏi Chính phủ chi cho cái gì. Về cơ bản, đánh giá chi tiêu công là việc đánh giá công tác hoạch định chính sách ngân sách và xây dựng thể chế. Nó là công cụ chủ yếu trong việc phân tích các vấn đề của khu vực công và lý giải tại sao khu vực công cần thiết phải tài trợ cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Mục đích của đánh giá chi tiêu công là giúp cho Chính phủ sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính thông qua ưu tiên hóa các khoản chi tiêu nhằm đem lại lợi ích thiết thực vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội (Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài, 2006) 5 1.2 ơ cấu chi tiêu công.
Căn cứ vào chức năng vĩ mô của nhà nước, chi tiêu công được chi cho các hoạt động: - Xây dựng cơ sở hạ tầng - Tòa án và Viện kiểm soát. - Hệ thống quân đội và an ninh xã hội. - Hệ thống giáo dục. - Hệ thống an sinh xã hội.
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp. - Hệ thống quản lý hành chính nhà nước. - Chi tiêu cho các chính sách đặc biệt (viện trợ nước ngoài, chính trị, …) - Chi khác. Cách phân loại này giúp cho Chính phủ thiết lập những chương trình hành động một cách hợp lý, theo những mục đích hay lợi ích muốn đạt tới.
Mặt khác, cách phân loại này cho phép đo lường những biến chuyển về bản chất của những chương trình và những biến đổi trong việc phân phối nguồn lực của chính phủ giữa các chương trình và giữa các khu vực công quyền (Sử Đình Thành, 2006). Căn cứ vào tính chất kinh tế, Chi tiêu công bao gồm: chi thường xuyên của Chính phủ và chi đầu tư phát triển của Chính phủ. + hi thường xuyên: Đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết cho hoạt động của các đơn vị khu vực công. Nó bao gồm các khoản chi lương, chi nghiệp vụ, chi quản lý cho các hoạt động: giáo dục, y tế, văn hóa; chi hàng hóa để đáp ứng nhu cầu hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi chuyển giao như an sinh xã hội, bảo hiểm, các khoản trợ cấp.
6 + hi đầu tư phát triển: Đây là nhóm chi gắn liền với chức năng kinh tế của Nhà nước. Nó bao gồm các khoản chi xây dựng công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết phải có sự tham gia của Nhà nước (Sử Đình Thành, 2005).3 Hai trường phái về chi tiêu công. Đã từ lâu, mối quan hệ giữa chi tiêu của Chính phủ đối với mức độ phát triển kinh tế đã nhận được sự chú ý rất lớn trong giới h c thuật. Cụ thể, phân tích về mối quan hệ lâu dài giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã cho ra những kết luận khác nhau.
Nói chung, lý thuyết khác nhau về mối quan hệ có thể được tạm chia thành hai trường phái kinh tế. Trường phái Keynes và Wagner. Sự tương phản cơ bản cho lý thuyết này là quan hệ nhân quả. Quan điểm của Wagner (1883) về tăng trưởng kinh tế là do quá trình công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế dẫn tới sự gia tăng t lệ chi tiêu công.
Ngược lại, quan điểm của Keynes giả định rằng chi tiêu của Chính phủ là một công cụ của nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài khóa và với công cụ này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Quan điểm này cho thấy vai trò của Chính phủ gia tăng là do tăng trưởng kinh tế. Điều này được giải thích bởi nhu cầu ngày càng tăng cho các chức năng quản lý và bảo vệ thì cần thiết để duy trì mức độ gia tăng sức mạnh kinh tế. Có ba lý do để thể hiện điều này.
Thứ nhất: nền kinh tế phát triển, khu vực công sẽ tiến hành các chức năng hành chính và bảo vệ mà trước đây nó được thực hiện bởi khu vực tư nhân. Thứ hai: khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu cung cấp hàng hóa xã hội và văn hóa và dịch vụ tăng lên. Thứ ba, khi nền kinh tế phát triển, sự can thiệp của Chính phủ lớn hơn là cần thiết để kiềm chế độc quyền tự nhiên và duy trì tốt chức năng cho các lực lượng thị trường (Bird, 1971). Một số nghiên cứu như Gandhi (1971), Gupta (1967) và Dritsakis và Adamopoulos (2004) xác nhận lý thuyết này.
7 Quan điểm của Keynes lập luận rằng tăng trưởng kinh tế xảy ra là kết quả của sự gia tăng chi tiêu khu vực công tăng. Trong bối cảnh này, chi tiêu chính phủ được coi là một biến ngoại sinh độc lập và có thể được sử dụng như là một biến chính sách hiệu quả để ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết này được xác nhận bởi (Ansari et al, 1997).4 Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế đã trải qua nhiều cuộc tranh cãi giữa các h c giả.
Mà vai trò cốt lõi của Chính phủ là thực thi hai chức năng cơ bản về đảm bảo an ninh quốc phòng và cung cấp hàng hóa công, nhằm để giảm thiểu rủi ro về tội phạm, đảm bảo đời sống, giữ gìn tài sản người dân và bảo vệ lãnh thổ quốc gia tránh sự xâm lược từ bên ngoài. Trong đó, việc cung cấp hàng hóa công chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: quốc phòng, giao thông, giáo dục, y tế, điện lực… Do đó, các h c giả Abdullah (2000), Al-Yousif Y (2000) lập luận rằng tăng chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và tăng chi tiêu công vào lĩnh vực y tế và giáo dục sẽ làm tăng hiệu suất lao động, dẫn đến gia tăng sản lượng quốc gia. Đồng thời, chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng như đường sá, truyền thông, điện lực… sẽ làm giảm chi phí sản xuất, làm tăng đầu ra. Cùng quan điểm với ý kiến này còn có sự ủng hộ của các h c giả như Aschauer (1989; Easterly và Rebelo (1993); Haque và Kim (2003); Odedokun (1997) và Shioji (2001).
Về lý thuyết, mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế vẫn còn mơ hồ, chưa đi đến sự thống nhất mà vẫn còn tranh luận gay gắt về vai trò chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế. Nổi bật là sự tranh luận về gánh nặng tài chính mà Chính phủ áp đặt lên công chúng và nền kinh tế. Tiền đề cho sự tranh luận này dựa trên hai khía cạnh: (i) ngân sách càng lớn thì gánh nặng tài chính áp đặt lên nền kinh tế càng lớn; và (ii) khu vực tư sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Chính phủ, nền kinh tế trở nên đánh đổi giữa hai khu vực (Sử Đình Thành, 2012). 8 Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế như Barro (1990), Cashin (1995), Bajo-Rubio (2000), và Milbourne et al.
Trong khi đó, các quan điểm ủng hộ Chính phủ lớn hơn tranh luận rằng, trong nền kinh tế Chính phủ thực hiện các chương trình cung cấp hàng hóa công có giá trị, từ đó tác động đến tổng sản lượng thông qua sự tác động với khu vực tư nhân. Phát triển cơ sở hạ tầng, loại bỏ hay điều tiết các ngoại tác sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế và cải thiện sự phân bổ nguồn lực, hoặc các khoản thanh toán chuyển giao cũng giúp duy trì sự hài hòa của xã hội cũng như làm gia tăng hiệu suất lao động. Các h c giả (Abdullah, 2000; Al - Yousif Y, 2000; Ranjan KD, 2008; Cooray A, 2009) đã kết luận rằng sự mở rộng chi tiêu công đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên các quan điểm ủng hộ chính phủ nhỏ hơn cho rằng Chính phủ càng lớn thì càng nhiều nguồn lực bị phân phối bởi lực lượng chính trị hơn lực lượng thị trường; có hai yếu tố chính cho thấy hiệu ứng tăng trưởng trở nên yếu ớt và tiêu cực.
Thứ nhất, càng mở rộng khu vực công để thực thi các chính sách tăng trưởng sẽ làm thâm hụt ngân sách nhà nước trầm tr ng hơn. Trong nỗ lực gia tăng tài trợ chi tiêu công, Chính phủ có thể lựa ch n gia tăng thuế và vay nợ. Đánh thuế cao sẽ gây tổn thất xã hội bởi thuế tạo ra gánh nặng thu nhập và làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Vay nợ để tài trợ chi tiêu công có thể làm gia tăng lãi suất trên thị trường vốn.
Kết quả là vay nợ gây ra hiện tượng chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân dẫn đến thuế trong tương lai tăng cao.