phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4.
Các giải pháp chủ yếu về đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1.1 Luận cứ khoa học về đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ. Một số khái niệm: Đầu tƣ phát triển giao thông đƣờng bộ (GTĐB) là 1 phần của đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) vì vậy trƣớc khi tìm hiểu hiểu về khái niệm của GTVT ĐB chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về CSHT. CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cầu kinh tế của một xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cƣ đƣợc bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Khi lực lƣợng sản xuất chƣa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố là lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động.
Nhƣng khi lực lƣợng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự tham gia của CSHT thì mới tạo ra đƣợc sự phát triển tối ƣu nhất bởi lẽ CSHT có vai trò quyết định đến kiến trúc thƣợng tầng hay tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế. CSHT chỉ thực sự phát triển sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào thế kỉ thứ 19. CSHT đƣợc chia làm 3 nhóm chính: CSHT kỹ thuật, CSHT xã hội, CSHT môi trƣờng : + CSHT kỹ thuật bao gồm các công trình và phƣơng tiện vật chất phục vụ cho sản suất và đời sống sinh hoạt của xã hội nhƣ các con đƣờng, hệ thống điện, bƣu chính viễn thông,… + CSHT xã hội là các công trình và phƣơng tiện để duy trì và phát triển các nguồn lực nhƣ các cơ sở giáo dục đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, và các cơ sở đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân nhƣ hệ thống công viên, các công trình đảm bảo an ninh xã hội. + CSHT môi trƣờng bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trƣờng sinh thái của đất nƣớc cũng nhƣ môi trƣờng sống của con ngƣời nhƣ các công trình xử lý nƣớc thải, rác thải… *Khái niệm GTĐB: GTĐB là một bộ phận của CSHT kỹ thuật bao gồm toàn bộ hệ thống cầu đƣờng phục vụ cho nhu cầu đi lại của ngƣời dân cũng nhƣ nhu cầu 5 giao lƣu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa những ngƣời dân trong cùng một vùng hay giữa vùng này với vùng khác hoặc giữa nƣớc này với nƣớc khác.
Trong Luật Giao thông Đƣờng bộ có hiệu lực thi hành 1/7/2009, nêu rõ: Đƣờng bộ gồm đƣờng, cầu đƣờng bộ, hầm đƣờng bộ, bến phà đƣờng bộ. Kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ gồm công trình đƣờng bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đƣờng bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đƣờng bộ. Nhƣ vậy khi phân tích và thu thập tài liệu cũng nhƣ đề xuất các biện pháp giải quyết vấn đề cần chú ý các nội dung trong khái niệm này. Cụ thể nhƣ sau (trích Điều 3 - Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008): Công trình đường bộ gồm đƣờng bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đƣờng bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đƣờng, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tƣờng, kè, hệ thống thoát nƣớc, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đƣờng bộ khác.
Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đƣờng bộ đƣợc xây dựng và phần đất dọc hai bên đƣờng bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đƣờng bộ. Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đƣờng bộ, tính từ mép ngoài đất của đƣờng bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đƣờng bộ. Phần đường xe chạy là phần của đƣờng bộ đƣợc sử dụng cho phƣơng tiện giao thông qua lại. Làn đường là một phần của phần đƣờng xe chạy đƣợc chia theo chiều dọc của đƣờng, có bề rộng đủ cho xe chạy an toàn.
Khổ giới hạn của đường bộ là khoảng trống có kích thƣớc giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đƣờng, cầu, bến phà, hầm đƣờng bộ để các xe kể cả hàng hóa xếp trên xe đi qua đƣợc an toàn. Đường phố là đƣờng đô thị, gồm lòng đƣờng và hè phố. Dải phân cách là bộ phận của đƣờng để phân chia mặt đƣờng thành hai chiều xe chạy riêng biệt hoặc để phân chia phần đƣờng của xe cơ giới và xe thô sơ. Dải phân cách gồm loại cố định và loại di động.
Đường cao tốc là đƣờng dành cho xe cơ giới, có dải phân cách chia đƣờng cho xe chạy hai chiều riêng biệt; không giao nhau cùng mức với một hoặc các đƣờng khác; đƣợc bố trí đầy đủ trang thiết bị phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian hành trình và chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định. Bảo trì đường bộ là thực hiện các công việc bảo dƣỡng và sửa chữa đƣờng bộ nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đƣờng đang khai thác. 6 Phương tiện giao thông đường bộ gồm phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ, phƣơng tiện giao thông thô sơ đƣờng bộ. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc đƣợc kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tƣơng tự.
Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho ngƣời khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tƣơng tự. Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đƣờng bộ. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ và xe máy chuyên dùng. Người tham gia giao thông gồm ngƣời điều khiển, ngƣời sử dụng phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ; ngƣời điều khiển, dẫn dắt súc vật; ngƣời đi bộ trên đƣờng bộ.
Người điều khiển phương tiện gồm ngƣời điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đƣờng bộ. Người điều khiển giao thông là cảnh sát giao thông; ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ hƣớng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông, ở bến phà, tại cầu đƣờng bộ đi chung với đƣờng sắt. Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của ngƣời điều khiển giao thông; tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đƣờng, cọc tiêu hoặc tƣờng bảo vệ, rào chắn. Cụ thể: - Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu: Tín hiệu xanh là đƣợc đi; Tín hiệu đỏ là cấm đi; Tín hiệu vàng - Biển báo hiệu đƣờng bộ gồm năm nhóm, quy định nhƣ sau: a) Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm; b) Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra; c) Biển hiệu lệnh để báo các hiệu lệnh phải thi hành; d) Biển chỉ dẫn để chỉ dẫn hƣớng đi hoặc các điều cần biết; đ) Biển phụ để thuyết minh bổ sung các loại biển báo cấm, biển báo nguy hiểm, biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn.
7 - Vạch kẻ đƣờng là vạch chỉ sự phân chia làn đƣờng, vị trí hoặc hƣớng đi, vị trí dừng lại. - Cọc tiêu hoặc tƣờng bảo vệ đƣợc đặt ở mép các đoạn đƣờng nguy hiểm để hƣớng dẫn cho ngƣời tham gia giao thông biết phạm vi an toàn của nền đƣờng và hƣớng đi của đƣờng. - Rào chắn đƣợc đặt ở nơi đƣờng bị thắt hẹp, đầu cầu, đầu cống, đầu đoạn đƣờng cấm, đƣờng cụt không cho xe, ngƣời qua lại hoặc đặt ở những nơi cần điều khiển, kiểm soát sự đi lại. Tổng quan về đầu tƣ, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
Đặc điểm đầu tƣ hạ tầng phát triển giao thông đƣờng bộ GTĐB là các kết quả của các dự án đầu tƣ phát triển nên nó mang đặc điểm của hoạt động đầu tƣ phát triển là : - GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tƣ lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thƣờng thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn.Do đó vốn đầu tƣ chủ yếu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốn NSNN. - Thời kì đầu tƣ kéo dài: thời kì đầu tƣ đƣợc tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đƣa vào hoạt động, nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm. - Thời gian vận hành kết quả đầu tƣ kéo dài: thời gian này đƣợc tính từ khi công trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình. - Các thành quả của hoạt động đầu tƣ thƣờng phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó đƣợc xây dựng.
- Vì đầu tƣ phát triển GTĐB đòi hỏi cần có vốn đầu tƣ lớn cùng với thời kì đầu tƣ kéo dài nên nó thƣờng có độ rủi ro cao trong đó có nguyên nhân chủ quan là do công tác quy hoạch ở nƣớc ta còn nhiều hạn chế nên nhiều công trình xây dựng không phát huy đƣợc hiệu quả cần thiết. Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động đầu tƣ phát triển thì đầu tƣ phát triển GTĐB cũng có những đặc điểm riêng của nó: *Đầu tƣ phát triển GTĐB mang tính hệ thống và đồng bộ: Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trƣng cơ bản của hoạt động đầu tƣ phát triển GTĐB.