Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) luôn được giao giữ vai trò chủ đạo, được phân bổ nguồn vốn đầu tư quy mô lớn cùng nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi và sự bảo hộ của Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp này trong thời gian dài còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Xét về tương quan cơ cấu, số lượng DNNN chỉ chiếm khoảng 0,08% đến 0,11% (xấp xỉ 0,5% theo các thống kê giai đoạn trước) trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng nguồn vốn Nhà nước đầu tư vào khu vực này lại chiếm trên 20% đến 28,4% tổng nguồn vốn toàn xã hội. Nhiều đơn vị ghi nhận tình trạng thua lỗ kéo dài, quản lý vốn kém hiệu quả, điển hình là các tồn tại tại 12 đại dự án nghìn tỷ.

Trước thực trạng phân bổ nguồn lực kém tối ưu, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chỉ thị nhằm đẩy mạnh công tác cổ phần hóa (CPH) và thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, tiến độ thực tế triển khai CPH và thoái vốn trong giai đoạn 2016–2018 diễn ra rất chậm, không đạt được các chỉ tiêu và mốc thời gian quy định. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Ngọc Huyền tập trung làm rõ các rào cản thực tiễn và xác định hệ thống giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thoái vốn Nhà nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về DNNN, thoái vốn DNNN, quy trình, phương thức thoái vốn và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng kết quả hoạt động kinh doanh của khối DNNN và diễn biến hoạt động thoái vốn tại Việt Nam giai đoạn 2016–2018 thông qua các quy định pháp lý, tiến độ thực hiện và nghiên cứu thương vụ điển hình Sabeco.
  3. Chỉ rõ các kết quả đạt được, nhận diện những hạn chế, yếu kém và phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến sự chậm trễ trong công tác thoái vốn.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước, các cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy hoạt động thoái vốn giai đoạn 2019–2020.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước tại Việt Nam; nghiên cứu mở rộng kinh nghiệm quốc tế tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên bang Nga.
    • Thời gian: Tập trung khảo sát số liệu thực trạng giai đoạn 2016–2018, định hướng kế hoạch thoái vốn giai đoạn 2019–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:

  • Khái niệm và định nghĩa: Thuật ngữ thoái vốn (disinvestment) theo Từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc); định nghĩa DNNN theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2015), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO).
  • Văn bản pháp luật Việt Nam:
    • Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2015, quy định DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).
    • Luật số 69/2014/QH13 về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
    • Nghị định số 69/2014/NĐ-CP về Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Nhà nước.
    • Nghị định số 91/2015/NĐ-CP và Nghị định số 32/2018/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Điều 38 Nghị định 91/2015/NĐ-CP quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, phương thức chuyển nhượng vốn Nhà nước trên sàn và ngoài sàn giao dịch chứng khoán).
    • Thông tư số 59/2018/TT-BTC hướng dẫn xác định giá trị quyền sử dụng đất khi thoái vốn.
    • Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg và Quyết định số 707/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án cơ cấu lại DNNN giai đoạn 2016–2020.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập và thống kê mô tả số liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Chính phủ trình Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh đối chiếu giữa mục tiêu kế hoạch và kết quả thực hiện thực tế.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case study) phân tích chi tiết quy trình, cơ chế xác định giá và phương thức chào bán cạnh tranh tại Tổng công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận chung về thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cải cách, CPH và thoái vốn DNNN:

  • Nghiên cứu quốc tế: Smith Al (1997) đo lường hàm sản lượng tại 22.735 doanh nghiệp chỉ ra sở hữu ngoài Nhà nước mang lại lợi nhuận cao hơn; Claessens và Djankov (1999) sử dụng phương pháp OLS khảo sát 706 doanh nghiệp tại Cộng hòa Séc; các nghiên cứu của Tian Zhu, Lý Trường Hải, Trịnh Phúc Viên tại Trung Quốc; công trình của Barry Spicer, David Emanuel, Michael Powel và quan điểm của Èslie Cohen (1997).
  • Nghiên cứu trong nước: Các nghiên cứu của Hoàng Công Thi và Phùng Thị Doan (1994), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2000), Phan Đức Hiếu (2003), Lê Hồng Hạnh (2004), Nguyễn Thị Kim Anh (2005), Trương Đông Lộc, Ger Lanjouw và Robert Lensink (sử dụng phương pháp sai biệt trong sai biệt - DID trên 121 doanh nghiệp), và phản biện của Fredrick Soholm (2006) về các rào cản kiểm soát sở hữu nội bộ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu các phân tích vĩ mô có hệ thống về thoái vốn tại các tập đoàn, tổng công ty có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng.

Về mặt lý luận, chương phân loại 4 hình thức tổ chức DNNN theo Luật Doanh nghiệp 2005 (Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần Nhà nước, Công ty TNHH MTV Nhà nước, Công ty TNHH Nhà nước từ hai thành viên trở lên); làm rõ mục đích thoái vốn nhằm giảm chi phí gián tiếp, hạn chế cơ chế độc quyền, tách rời chức năng cấp vốn và sản xuất, tái phân bổ nguồn lực tài chính. Tác giả tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế:

  • Trung Quốc: Công ty hóa doanh nghiệp trọng điểm, thành lập Quỹ Tái cơ cấu DNNN quy mô 350 tỷ Nhân dân tệ (52,5 tỷ USD), bố trí 100 tỷ Nhân dân tệ hỗ trợ lao động dôi dư ngành than - thép, cho phép sở hữu tư nhân trên 50% ở một số ngành và bán cổ phần trong các lĩnh vực độc quyền từ năm 2013.
  • Hàn Quốc: Triển khai CPH qua các giai đoạn (1968–1973, 1981–1983, CPH toàn dân 1987–1992 thu về 7,1 tỷ USD), sử dụng tòa án phá sản chuyên dụng và giải pháp quản trị để tái cấu trúc tập đoàn nợ cao.
  • Liên bang Nga: Giai đoạn 1991–1998 sử dụng chương trình cấp 80 triệu giấy chứng nhận (voucher), tuy nhiên quá trình tư nhân hóa cấp tập 89.200 doanh nghiệp gặp thất bại do thiếu thể chế tài chính, pháp lý minh bạch và bị tội phạm có tổ chức thao túng.

Chương 2: Thực trạng thoái vốn tại doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực trạng về quy mô, kết quả hoạt động kinh doanh và tiến trình thoái vốn DNNN tại Việt Nam:

Chỉ tiêu tài chính DNNN Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Số lượng DNNN (doanh nghiệp) 583 526 490
Tỷ lệ DNNN trên tổng số DN (%) 0,104% 0,110% 0,087%
Tổng tài sản (nghìn tỷ đồng) 4.768,8 3.015,5 1.843,3
Vốn chủ sở hữu (nghìn tỷ đồng) 1.789,5 1.371,6 1.040,5
Tổng doanh thu (nghìn tỷ đồng) 1.515,8 1.605,1 193,5
Lợi nhuận trước thuế (nghìn tỷ đồng) 139,7 167,6 26,4

Theo số liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA) của DNNN chỉ đạt 2,6% (thấp hơn nhiều so với khu vực FDI đạt 6,9%, cao hơn tư nhân đạt 1,4%); hiệu suất sinh lời trên doanh thu (ROS) của DNNN đạt 6,6% (khu vực FDI đạt 6,7%, tư nhân đạt 1,9%). Bình quân một DNNN nộp ngân sách Nhà nước 104 tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp FDI là 18 tỷ đồng và doanh nghiệp tư nhân là 1 tỷ đồng.

Về tiến độ thực hiện thoái vốn theo danh mục 406 doanh nghiệp giai đoạn 2017–2020:

  • Năm 2017: Kế hoạch thoái vốn tại 135 doanh nghiệp, thực tế chỉ hoàn thành 38 doanh nghiệp (đạt tỷ lệ 28%).
  • Năm 2018: Kế hoạch thoái vốn tại 181 doanh nghiệp, thực tế chỉ thực hiện được 18 doanh nghiệp (đạt tỷ lệ 10%), trong đó 16 đơn vị là chuyển tiếp từ kế hoạch năm 2017 tồn đọng.
Doanh nghiệp thoái vốn điển hình Tỷ lệ vốn thoái Giá trị thu về (tỷ đồng)
CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) 53,59% 109.972
CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk) 45,10% 20.286
Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 57,71% 7.366
Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp) 49,65% 2.472
CTCP Nhựa Bình Minh 29,51% 2.331
CTCP Mía đường II 93,00% 663

Bên cạnh các phiên đấu giá thành công trong năm 2017 (28/34 phiên bán hết 100% cổ phần chào bán qua HNX), nhiều đợt chào bán thất bại hoặc không đạt mục tiêu: đợt bán cổ phần Becamex IDC chỉ thu về 588 tỷ đồng so với mức dự kiến 9.650 tỷ đồng; phiên đấu giá 219,7 triệu cổ phần của Tổng công ty Sông Đà chỉ bán thành công 790.900 cổ phần (tương đương 0,35% lượng chào bán), thu về gần 9 tỷ đồng do tỷ lệ vốn Nhà nước giữ lại vẫn chi phối đến 51%.

Nghiên cứu trường hợp điển hình Sabeco: Ngày 18/12/2017, Bộ Công Thương tổ chức chào bán cạnh tranh 343.587.000 cổ phần (tương đương 53,59% vốn điều lệ) của Sabeco tại HOSE với giá khởi điểm 320.000 đồng/cổ phần (xác định theo giá cao nhất giữa giá tham chiếu bình quân 30 phiên, giá định giá của tư vấn và giá đóng cửa phiên liền trước). Phiên đấu giá thành công với giá trúng bình quân 320.000 đồng/cổ phần, thu về 109.972 tỷ đồng từ nhà đầu tư trúng giá là Công ty TNHH Vietnam Beverage (thuộc Tập đoàn ThaiBev). Thành công này đến từ việc lựa chọn liên danh tư vấn quốc tế BVSC - E&Y - SIVC và tổ chức 3 đợt Roadshow chuyên nghiệp tại Singapore, London và TP. Hồ Chí Minh.

Chương 2 tổng kết 7 nhóm nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong thoái vốn:

  1. Trách nhiệm của người đứng đầu bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp chưa cao, chưa quyết liệt thực hiện chỉ đạo.
  2. Vi phạm nguyên tắc thị trường, thiếu tính công khai, minh bạch thông tin tài chính.
  3. Tồn tại tâm lý sợ mất vị trí, quyền lợi cục bộ và "lợi ích nhóm".
  4. Quá trình xử lý hồ sơ pháp lý về tài sản, đất đai phức tạp, phụ thuộc vào tiến độ phê duyệt của UBND các địa phương (điển hình tại Tổng công ty HUD).
  5. Tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ lại sau thoái vốn còn quá cao, làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược.
  6. Khó khăn trong công tác thẩm định giá cổ phần, đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất, thương hiệu và dự án hình thành trong tương lai chưa được hướng dẫn rõ tại Thông tư 59/2018/TT-BTC.
  7. Biến động bất lợi và sự sụt giảm của chỉ số VN-Index trên thị trường chứng khoán làm giảm khả năng hấp thụ nguồn cung cổ phiếu.

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam

Chương 3 trình bày mục tiêu thoái vốn tại 62 doanh nghiệp năm 2019 (kỳ vọng thu về 50.000 tỷ đồng, tăng 40% so với 2018) và 28 doanh nghiệp năm 2020. Một số thương vụ trọng điểm năm 2019 gồm: ACV (thoái 20%), Petrolimex (thoái 25%), Vietnam Airlines (thoái 35%), Viglacera - VGC (thoái tiếp 53% về 0% sau lần chào bán 80,6 triệu cổ phiếu thất bại ở mức giá 26.100 đồng/cổ phần năm 2018), VNSTEEL (thoái 58%), Vinatex (thoái 53%), Habeco (thoái 82%).

Các nhóm giải pháp được đề xuất gồm:

  • Hoàn thiện thể chế và khung pháp lý: Rà soát, trình Quốc hội và Chính phủ sửa đổi các luật, nghị định liên quan đến DNNN trong giai đoạn 2018–2020; bổ sung quy định xử lý tài sản công, định giá quyền sử dụng đất, thuê mặt nước gắn với CPH; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về định giá dự án hình thành trong tương lai.
  • Thiết lập chế tài trách nhiệm người đứng đầu: Gắn kết quả thoái vốn với đánh giá thi đua, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý; thực hiện kỷ luật, thuyên chuyển công tác đối với lãnh đạo bộ ngành, doanh nghiệp chậm trễ hoặc không hoàn thành kế hoạch thoái vốn theo thời hạn được giao.
  • Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện: Bắt buộc doanh nghiệp thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán và công khai minh bạch thông tin tài chính trước khi chào bán; giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước xuống mức không chi phối để thu hút nhà đầu tư có năng lực tài chính và quản trị; áp dụng quy trình bán vốn chuyên nghiệp qua tổ chức Roadshow quốc tế và lựa chọn đơn vị tư vấn độc lập có năng lực.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ số liệu tài chính của khu vực DNNN giai đoạn 2016–2018; lượng hóa mức độ chậm trễ trong tiến độ thoái vốn Nhà nước (năm 2017 đạt 28%, năm 2018 đạt 10%); chỉ ra sự phân hóa hiệu quả giữa các thương vụ bán trọn lô/tỷ lệ chi phối (như Sabeco thu hơn 109.972 tỷ đồng) với các thương vụ Nhà nước vẫn giữ tỷ lệ chi phối trên 50% (như Sông Đà chỉ bán được 0,35%, Becamex IDC chỉ thu được 6% kế hoạch).
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra 3 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện hành lang pháp lý (đặc biệt là định giá quyền sử dụng đất và dự án tương lai), thiết lập chế tài hành chính gắn liền trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và đổi mới phương thức bán vốn theo cơ chế thị trường.
  • Đóng góp của đề tài: Khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào phân khúc các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước quy mô lớn (vốn trên 100 tỷ đồng) – một mảng nghiên cứu mà các công trình trước đây ít đề cập do hạn chế về tiếp cận dữ liệu; kết hợp phân tích khung pháp lý mới nhất tại thời điểm nghiên cứu (Nghị định 32/2018/NĐ-CP và Thông tư 59/2018/TT-BTC) để giải thích căn nguyên các nút thắt về định giá đất đai trong thoái vốn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi số liệu thực trạng của đề tài chủ yếu dừng lại ở các báo cáo tài chính và thống kê đến hết năm 2018; phần kế hoạch năm 2019 và 2020 chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu định hướng danh mục do Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành, chưa đánh giá được kết quả thoái vốn sau năm 2018. Nghiên cứu chủ yếu khai thác dữ liệu thứ cấp công khai, chưa thực hiện khảo sát định lượng bảng câu hỏi trực tiếp tại các đơn vị thoái vốn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, cập nhật kết quả thực tế của kế hoạch thoái vốn giai đoạn 2019–2020; mở rộng nghiên cứu thực nghiệm định lượng về tác động của việc giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước đến hiệu quả hoạt động sau thoái vốn của các doanh nghiệp quy mô lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp, Tài chính công, Quản trị kinh doanh, Kinh tế học và Luật Kinh tế.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Quy trình thoái vốn chuẩn hóa 8 bước qua SCIC và các quy định về phương thức chuyển nhượng vốn trên sàn/ngoài sàn theo Nghị định 32/2018/NĐ-CP.
    • Phân tích chi tiết hồ sơ thương vụ thoái vốn Sabeco, từ phương pháp tính giá khởi điểm, giới hạn tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đến kinh nghiệm xúc tiến thương mại quốc tế (Roadshow).
    • Khảo cứu kinh nghiệm tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên bang Nga.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chí xác định Doanh nghiệp Nhà nước theo pháp luật Việt Nam có sự thay đổi căn bản nào kể từ ngày 01/07/2015?
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối (trên 50%). Tuy nhiên, theo Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ 01/07/2015), DNNN được định nghĩa lại là "doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ".

2. Tiến độ thoái vốn DNNN tại Việt Nam trong hai năm 2017 và 2018 đạt kết quả cụ thể như thế nào so với kế hoạch?
Tiến độ thoái vốn thực tế diễn ra rất chậm: năm 2017 kế hoạch thoái vốn tại 135 doanh nghiệp nhưng chỉ hoàn thành 38 doanh nghiệp (đạt 28%); năm 2018 kế hoạch thoái vốn tại 181 doanh nghiệp nhưng chỉ thực hiện được 18 doanh nghiệp (đạt 10%), trong đó có tới 16 đơn vị là chuyển tiếp từ kế hoạch tồn đọng năm 2017.

3. Thương vụ thoái vốn Nhà nước tại Sabeco (SAB) năm 2017 có quy mô và phương thức thực hiện ra sao?
Bộ Công Thương đã tổ chức bán đấu giá cạnh tranh 343.587.000 cổ phần (tương đương 53,59% vốn điều lệ Sabeco) vào ngày 18/12/2017 tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh với giá khởi điểm 320.000 đồng/cổ phần. Toàn bộ lô cổ phần chào bán đã được Công ty TNHH Vietnam Beverage mua thành công với giá đấu bình quân 320.000 đồng/cổ phần, mang về cho ngân sách Nhà nước hơn 109.972 tỷ đồng (gần 5 tỷ USD).

4. Vì sao các thương vụ thoái vốn tại Tổng công ty Sông Đà và Becamex IDC không đạt được kết quả như kỳ vọng?
Tại Becamex IDC, đợt chào bán chỉ thu về 588 tỷ đồng so với 9.650 tỷ đồng dự kiến; tại Tổng công ty Sông Đà, chỉ có 790.900 cổ phần được bán thành công trong tổng số gần 220 triệu cổ phần chào bán (đạt 0,35%, thu về gần 9 tỷ đồng). Nguyên nhân chính là do Nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối quá lớn (trên 51%) trong thời gian dài sau CPH, kèm theo các áp lực về nợ vay và tiến độ triển khai dự án chậm, làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bên ngoài.

5. Vướng mắc lớn nhất trong công tác định giá tài sản khi thoái vốn DNNN được tác giả chỉ ra là gì?
Vướng mắc chủ yếu nằm ở khâu xác định giá trị quyền sử dụng đất và lợi thế thuê đất do phụ thuộc vào tiến độ phê duyệt phương án sử dụng đất của UBND các địa phương. Ngoài ra, việc xác định giá trị hiệu quả của các dự án hình thành trong tương lai vẫn gặp khó khăn do Thông tư số 59/2018/TT-BTC chưa có hướng dẫn cụ thể cho các trường hợp này.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Ngọc Huyền đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực trạng thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2016–2018. Thông qua việc phân tích số liệu tài chính vĩ mô và mổ xẻ các thương vụ điển hình như Sabeco, Becamex IDC và Sông Đà, tác giả đã chỉ rõ những điểm nghẽn cốt lõi về cơ chế định giá đất đai, tính minh bạch và trách nhiệm của người đứng đầu. Các giải pháp đề xuất trong công trình tập trung vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật, đổi mới phương thức bán vốn theo nguyên tắc thị trường và gắn trách nhiệm cá nhân, đóng góp cơ sở thực tiễn cho việc đẩy nhanh lộ trình tái cơ cấu khối doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.