CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THOÁI VỐN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài a. Những công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về thoái vốn DNNN Trong quá khứ và hiện tại, những vấn đề liên quan đến thoái vốn DNNN đã và đang được nhiều học giả thuộc các nhà tư tưởng tư sản và vô sản tại nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Trong nền kinh tế TBCN, khi sở hữu Nhà nước xuất hiện đã trở thành tiền đề xuất hiện của các DNNN và hiện tượng CPH và thoái vốn DNNN cũng từ đây mà hình thành. Hiện tượng kinh tế này trở thành đề tài nghiên cứu cho nhiều học giả tư sản. Và đó thực chất là một phần của chủ đề về “tư nhân hóa”. Để đo lường ảnh hưởng của yếu tố cấu trúc sở hữu doanh nghiệp và yếu tố quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau CPH, Smith Al (1997) đã sử dụng hàm sản lượng để đo lường hiệu ứng của tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đối với hoạt động của doanh nghiệp với 22,735 doanh nghiệp.
Kết quả chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có yếu tố sở hữu ngoài Nhà nước thường mang lại lợi nhuận cao hơn. Claessens và Djankov (1999) sử dụng phương pháp hồi qui OLS để xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (lợi nhuận và năng suất lao động) của 706 doanh nghiệp đã CPH của cộng hòa Séc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tư nhân hóa tài sản trong DNNN có mối tương quan dương với lợi nhuận và năng suất lao động. Sử dụng phương pháp hồi qui bình phương nhỏ nhất (OLS), tuy nhiên nhóm tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu tư nhân không có mối tương quan với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hơn nữa, doanh nghiệp với cơ cấu sở hữu bao gồm cả thành phần bên ngoài không mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn so với các DN không có cổ đông bên ngoài, trong đó có DNNN. Một số công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc đáng chú ý như: Giáo sư Tian Zhu với chủ đề: “Công cuộc vận động “công ty hoá” ở Trung VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Quốc: một sự đánh giá và những hệ quả về chính sách” (Trường đại học Khoa học và Kinh tế Hồng Kông) đã phân tích và đánh giá cuộc vận động công ty hoá ở Trung Quốc dựa trên những vấn đề bức xúc của khu vực KTNN. Tác giả đã kết luận rằng, điều kiện quan trọng hàng đầu để tái cơ cấu thành công khu vực DNNN là phải có sự chuyển đổi cơ bản về sở hữu Nhà nước và tạo lập bộ máy quản lý có hiệu quả, điều đó dẫn đến việc đòi hỏi phải phát triển các thể chế thị trường của quốc gia, đặc biệt là các thị trường tài chính và hệ thống pháp luật. Lý Trường Hải trong nghiên cứu về “Tìm tòi việc thí điểm cải cách chế độ cổ phần” đã đặt ra câu hỏi: làm thế nào để các xí nghiệp quốc doanh có thể chuyển đổi hoàn toàn cơ chế kinh doanh (Nhân dân nhật báo ngày 4/4/1994).
Theo tác giả, theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ xã hội hiện đại mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra là phải cải cách xí nghiệp một cách sâu sắc mà chế độ CTCP (dụng ý chỉ sự cần thiết phải CPH DNNN) phải được coi là hình thức tổ chức chủ yếu của chế độ xã hội hiện đại. Quá trình thực hiện cải tổ kinh tế quốc doanh theo chế độ cổ phần trước hết phải làm tốt công tác bình xét đánh giá tài sản quốc hữu, không để thất thoát tài sản quốc hữu. Hay Trịnh Phúc Viên (1995) trong nghiên cứu về “Những vấn đề khó khăn và viễn cảnh của công cuộc cải cách xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc”, đã phân tích những tệ nạn kéo dài quá trình cải cách, những khó khăn gặp phải và những chính sách đổi mới của xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc (Tạp chí nghiên cứu “Trung công”, Đài Loan, số 9/1995). Những công trình nghiên cứu đã công bố trong nước về thoái vốn DNNN Với đề tài “Cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam”, Hoàng Công Thi, Phùng Thị Doan (1994, Viện Khoa học tài chính, NXB Thống kê) đã đề cập đến các nghiên cứu điển hình về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các vấn đề liên quan đến vốn, tài sản, đất đai trong quá trình CPH.
“Cơ sở khoa học của việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tài chính chủ trì). Công trình này đã đưa ra cơ sở lý luận của CPH DNNN cũng như một số điều kiện đặc thù của Việt Nam khi tiến hành CPH DNNN. VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Nghiên cứu “Ảnh hưởng của cải cách doanh nghiệp Nhà nước tới sự phát triển khu vực phi Nhà nước ở Việt Nam” của CIEM (2000) đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của việc đổi mới các DNNN đối với sự phát triển khu vực phi Nhà nước. Các tác giả đã khảo sát, điều tra ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, bao gồm (i) tạo cơ chế cạnh tranh bình đằng giữa DNNN và DN không phải Nhà nước, (ii) tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ DN phi Nhà nước mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất; Tuy nhiên, (i) việc phát triển quá mạnh đầu tư Nhà nước ở các DNNN trong một số ngành nghề có thể "lấn át" đầu tư tư nhân, (ii) vẫn còn tư tưởng "ưu tiên" DNNN so với các DN phi Nhà nước ở một số địa phương dẫn đến các chính sách ưu đãi đầu tư đều hướng tới các DNNN, không phải DN phi Nhà nước.
Cuốn sách “Cổ phần hóa - giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước” của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN đã đề cập đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyết tâm đổi mới DNNN thông qua CPH DNNN, và đưa ra một số đánh giá quá trình CPH ở Việt Nam. Phan Đức Hiếu (2003, NXB Tài chính) trong cuốn “Cải cách doanh nghiệp Nhà nước” với trọng tâm nghiên cứu các mô hình đổi mới hoạt động của DNNN, gồm các nội dung chính sau: Sắp xếp lại, CPH DNNN; chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH MTV; Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN. Với chủ đề “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Hồng Hạnh (2004, NXB Chính trị Quốc gia) nghiên cứu tình hình DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN, những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam, về CPH DNNN, hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN. Khi luận giải về lý luận và thực tiễn CPH DNNN, tác giả đã đi sâu phân tích những tác động của CPH DNNN: Một là, CPH có tác động làm cho sở hữu trong DN trở nên đa dạng hơn.
Vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong SXKD. Hai là, CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp có sở hữu một chủ, góp phần thu hút đầu tư của các thành phần xã hội vào sản xuất, kinh doanh đối với DN sau khi cổ phần hóa. VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Ba là, CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp nếu như người lao động muốn. Trên cơ sở phân tích về những tác động của quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, tác giả còn chỉ rõ những tác động của CPH đối với tăng trưởng kinh tế và vấn đề dân chủ hoá đời sống kinh tế, chống tham nhũng; tác động đến các vấn đề xã hội và thúc đẩy phát triển TTCK.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh và các tác giả khác (2005) đã chỉ ra trong nghiên cứu "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế" các hình thức đổi mới DNNN. Trong đó, các tác giả đã điều tra, khảo sát các hình thức đổi mới DNNN như: giao, bán, khoán, cho thuê và cổ phần hoá DNNN. Các tác giả đã chỉ ra những hạn chế và bất cập trong quá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt nam như: (i) khó khăn trong định giá doanh nghiệp, đặc biệt là định giá tài sản vô hình, (ii) sự thay đổi về nhận thức của lãnh đạo DNNN sau khi cổ phần hoá và (iii) việc giải quyết lao động dôi dư hay các chính sách đãi ngộ người lao động sau CPH. Trương Văn Bân (1996, NXB Chính trị Quốc gia) đã xuất bản cuốn “Bàn về cải cách doanh nghiệp Nhà nước”; Sách chuyên khảo về “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Ngọc Quang (1996, NXB Khoa học Xã hội); Cuốn sách “Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần” Đoàn Văn Hạnh (1998, NXB Thống kê) [58, tr.
148]; Cuốn sách “Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước: Pháp luật điều chỉnh, mô hình chủ sở hữu và một số kinh nghiệm quốc tế” của Trần Tiến Cường (2005, NXB Thống kê) [42, tr. 147] cũng đã đề cập các khía cạnh khác nhau liên quan tới CPH DNNN ở Việt Nam. Hoàng Tuân (2016) [83, tr. 153] đã liệt kê một số công trình nghiên cứu về cải cách và CPH DNNN.
i) công trình nghiên cứu “Chuyển đổi các DNNN - quản lý sự thay đổi triệt để tổ chức trong môi trường phi điều tiết” (Barry Spicer, David Emanuel, Michael Powel). Các tác giả đã nghiên cứu quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN dưới khía cạnh giải pháp tái cơ cấu DNNN ở các quốc gia khác nhau, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Đó là các giải pháp có thể áp dụng nhằm thu được thành công trong cải cách các DNNN. Tuy nhiên, các nội dung liên quan đến tăng cường CPH DNNN chưa được đề cập.
ii) tác phẩm “Khu vực VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH quốc doanh: phạm vi và hạn chế của Nhà nước trong vai trò cổ đông” (của Èslie Cohen, 1997): Thể hiện quan điểm phản đối đầu tư ồ ạt và bao cấp của Nhà nước.