Khóa luận tốt nghiệp về giải pháp thúc đẩy hoạt động thoái vốn doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp tài chính giải pháp thúc đẩy hoạt động thoái vốn doanh nghiệp nhà nước tại việt nam, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

62
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thoái vốn doanh nghiệp nhà nước

Thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam. Việc thoái vốn không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện cho các DNNN hoạt động hiệu quả hơn trong môi trường cạnh tranh. Theo các chuyên gia, giải pháp kinh tế này cần được thực hiện đồng bộ với các chính sách cải cách hành chínhquản lý tài sản để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Việc tái cấu trúc doanh nghiệp thông qua cổ phần hóathoái vốn sẽ giúp DNNN chuyển mình, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

1.1. Tầm quan trọng của thoái vốn

Thoái vốn DNNN không chỉ là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay mà còn là một phần của chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Việc đầu tư công vào các DNNN cần được xem xét lại để đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Theo đó, chính sách kinh tế cần phải được điều chỉnh để khuyến khích đầu tư nước ngoài và tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của DNNN mà còn góp phần vào việc tăng trưởng kinh tếphát triển bền vững.

II. Thực trạng thoái vốn doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Thực trạng thoái vốn DNNN tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc cổ phần hóathoái vốn, nhưng tiến độ thực hiện vẫn còn chậm. Các DNNN vẫn gặp khó khăn trong việc xác định giá trị tài sản và quy định pháp luật liên quan đến quá trình thoái vốn còn nhiều bất cập. Theo báo cáo, nhiều DNNN vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra trong việc thoái vốn, dẫn đến tình trạng thất thoát tài sảnlãng phí nguồn lực. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNNN mà còn tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoánnền kinh tế nói chung.

2.1. Những khó khăn trong quá trình thoái vốn

Một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình thoái vốn DNNN là sự thiếu minh bạch trong quản lý tài sản. Nhiều DNNN không có hệ thống quản lý tài sản hiệu quả, dẫn đến việc định giá tài sản không chính xác. Hơn nữa, chính sách kinh tế hiện hành chưa thực sự khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào quá trình thoái vốn. Điều này khiến cho việc đầu tư công vào DNNN trở nên kém hấp dẫn, từ đó làm giảm khả năng thu hút đầu tư nước ngoàicải cách hành chính trong lĩnh vực này.

III. Giải pháp thúc đẩy thoái vốn doanh nghiệp nhà nước

Để thúc đẩy quá trình thoái vốn DNNN, cần có những giải pháp kinh tế đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thoái vốn để tạo ra khung pháp lý rõ ràng và minh bạch. Thứ hai, cần tăng cường quản lý tài sản và xây dựng hệ thống định giá tài sản hiệu quả để đảm bảo tính chính xác trong quá trình thoái vốn. Cuối cùng, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia vào quá trình cổ phần hóa DNNN.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Việc hoàn thiện quy định pháp luật là rất cần thiết để tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình thoái vốn. Cần có các quy định rõ ràng về quy trình cổ phần hóathoái vốn, từ đó giảm thiểu tình trạng thất thoát tài sảnlãng phí nguồn lực. Hơn nữa, cần có các chính sách hỗ trợ cho các DNNN trong việc chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THOÁI VỐN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài a. Những công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về thoái vốn DNNN Trong quá khứ và hiện tại, những vấn đề liên quan đến thoái vốn DNNN đã và đang được nhiều học giả thuộc các nhà tư tưởng tư sản và vô sản tại nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

Trong nền kinh tế TBCN, khi sở hữu Nhà nước xuất hiện đã trở thành tiền đề xuất hiện của các DNNN và hiện tượng CPH và thoái vốn DNNN cũng từ đây mà hình thành. Hiện tượng kinh tế này trở thành đề tài nghiên cứu cho nhiều học giả tư sản. Và đó thực chất là một phần của chủ đề về “tư nhân hóa”. Để đo lường ảnh hưởng của yếu tố cấu trúc sở hữu doanh nghiệp và yếu tố quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau CPH, Smith Al (1997) đã sử dụng hàm sản lượng để đo lường hiệu ứng của tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đối với hoạt động của doanh nghiệp với 22,735 doanh nghiệp.

Kết quả chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có yếu tố sở hữu ngoài Nhà nước thường mang lại lợi nhuận cao hơn. Claessens và Djankov (1999) sử dụng phương pháp hồi qui OLS để xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (lợi nhuận và năng suất lao động) của 706 doanh nghiệp đã CPH của cộng hòa Séc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tư nhân hóa tài sản trong DNNN có mối tương quan dương với lợi nhuận và năng suất lao động. Sử dụng phương pháp hồi qui bình phương nhỏ nhất (OLS), tuy nhiên nhóm tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu tư nhân không có mối tương quan với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hơn nữa, doanh nghiệp với cơ cấu sở hữu bao gồm cả thành phần bên ngoài không mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn so với các DN không có cổ đông bên ngoài, trong đó có DNNN. Một số công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc đáng chú ý như: Giáo sư Tian Zhu với chủ đề: “Công cuộc vận động “công ty hoá” ở Trung VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Quốc: một sự đánh giá và những hệ quả về chính sách” (Trường đại học Khoa học và Kinh tế Hồng Kông) đã phân tích và đánh giá cuộc vận động công ty hoá ở Trung Quốc dựa trên những vấn đề bức xúc của khu vực KTNN. Tác giả đã kết luận rằng, điều kiện quan trọng hàng đầu để tái cơ cấu thành công khu vực DNNN là phải có sự chuyển đổi cơ bản về sở hữu Nhà nước và tạo lập bộ máy quản lý có hiệu quả, điều đó dẫn đến việc đòi hỏi phải phát triển các thể chế thị trường của quốc gia, đặc biệt là các thị trường tài chính và hệ thống pháp luật. Lý Trường Hải trong nghiên cứu về “Tìm tòi việc thí điểm cải cách chế độ cổ phần” đã đặt ra câu hỏi: làm thế nào để các xí nghiệp quốc doanh có thể chuyển đổi hoàn toàn cơ chế kinh doanh (Nhân dân nhật báo ngày 4/4/1994).

Theo tác giả, theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ xã hội hiện đại mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra là phải cải cách xí nghiệp một cách sâu sắc mà chế độ CTCP (dụng ý chỉ sự cần thiết phải CPH DNNN) phải được coi là hình thức tổ chức chủ yếu của chế độ xã hội hiện đại. Quá trình thực hiện cải tổ kinh tế quốc doanh theo chế độ cổ phần trước hết phải làm tốt công tác bình xét đánh giá tài sản quốc hữu, không để thất thoát tài sản quốc hữu. Hay Trịnh Phúc Viên (1995) trong nghiên cứu về “Những vấn đề khó khăn và viễn cảnh của công cuộc cải cách xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc”, đã phân tích những tệ nạn kéo dài quá trình cải cách, những khó khăn gặp phải và những chính sách đổi mới của xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc (Tạp chí nghiên cứu “Trung công”, Đài Loan, số 9/1995). Những công trình nghiên cứu đã công bố trong nước về thoái vốn DNNN Với đề tài “Cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam”, Hoàng Công Thi, Phùng Thị Doan (1994, Viện Khoa học tài chính, NXB Thống kê) đã đề cập đến các nghiên cứu điển hình về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các vấn đề liên quan đến vốn, tài sản, đất đai trong quá trình CPH.

“Cơ sở khoa học của việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tài chính chủ trì). Công trình này đã đưa ra cơ sở lý luận của CPH DNNN cũng như một số điều kiện đặc thù của Việt Nam khi tiến hành CPH DNNN. VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Nghiên cứu “Ảnh hưởng của cải cách doanh nghiệp Nhà nước tới sự phát triển khu vực phi Nhà nước ở Việt Nam” của CIEM (2000) đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của việc đổi mới các DNNN đối với sự phát triển khu vực phi Nhà nước. Các tác giả đã khảo sát, điều tra ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, bao gồm (i) tạo cơ chế cạnh tranh bình đằng giữa DNNN và DN không phải Nhà nước, (ii) tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ DN phi Nhà nước mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất; Tuy nhiên, (i) việc phát triển quá mạnh đầu tư Nhà nước ở các DNNN trong một số ngành nghề có thể "lấn át" đầu tư tư nhân, (ii) vẫn còn tư tưởng "ưu tiên" DNNN so với các DN phi Nhà nước ở một số địa phương dẫn đến các chính sách ưu đãi đầu tư đều hướng tới các DNNN, không phải DN phi Nhà nước.

Cuốn sách “Cổ phần hóa - giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước” của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN đã đề cập đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyết tâm đổi mới DNNN thông qua CPH DNNN, và đưa ra một số đánh giá quá trình CPH ở Việt Nam. Phan Đức Hiếu (2003, NXB Tài chính) trong cuốn “Cải cách doanh nghiệp Nhà nước” với trọng tâm nghiên cứu các mô hình đổi mới hoạt động của DNNN, gồm các nội dung chính sau: Sắp xếp lại, CPH DNNN; chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH MTV; Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN. Với chủ đề “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Hồng Hạnh (2004, NXB Chính trị Quốc gia) nghiên cứu tình hình DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN, những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam, về CPH DNNN, hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN. Khi luận giải về lý luận và thực tiễn CPH DNNN, tác giả đã đi sâu phân tích những tác động của CPH DNNN: Một là, CPH có tác động làm cho sở hữu trong DN trở nên đa dạng hơn.

Vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong SXKD. Hai là, CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp có sở hữu một chủ, góp phần thu hút đầu tư của các thành phần xã hội vào sản xuất, kinh doanh đối với DN sau khi cổ phần hóa. VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH Ba là, CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp nếu như người lao động muốn. Trên cơ sở phân tích về những tác động của quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, tác giả còn chỉ rõ những tác động của CPH đối với tăng trưởng kinh tế và vấn đề dân chủ hoá đời sống kinh tế, chống tham nhũng; tác động đến các vấn đề xã hội và thúc đẩy phát triển TTCK.

Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh và các tác giả khác (2005) đã chỉ ra trong nghiên cứu "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế" các hình thức đổi mới DNNN. Trong đó, các tác giả đã điều tra, khảo sát các hình thức đổi mới DNNN như: giao, bán, khoán, cho thuê và cổ phần hoá DNNN. Các tác giả đã chỉ ra những hạn chế và bất cập trong quá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt nam như: (i) khó khăn trong định giá doanh nghiệp, đặc biệt là định giá tài sản vô hình, (ii) sự thay đổi về nhận thức của lãnh đạo DNNN sau khi cổ phần hoá và (iii) việc giải quyết lao động dôi dư hay các chính sách đãi ngộ người lao động sau CPH. Trương Văn Bân (1996, NXB Chính trị Quốc gia) đã xuất bản cuốn “Bàn về cải cách doanh nghiệp Nhà nước”; Sách chuyên khảo về “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Ngọc Quang (1996, NXB Khoa học Xã hội); Cuốn sách “Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần” Đoàn Văn Hạnh (1998, NXB Thống kê) [58, tr.

148]; Cuốn sách “Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước: Pháp luật điều chỉnh, mô hình chủ sở hữu và một số kinh nghiệm quốc tế” của Trần Tiến Cường (2005, NXB Thống kê) [42, tr. 147] cũng đã đề cập các khía cạnh khác nhau liên quan tới CPH DNNN ở Việt Nam. Hoàng Tuân (2016) [83, tr. 153] đã liệt kê một số công trình nghiên cứu về cải cách và CPH DNNN.

i) công trình nghiên cứu “Chuyển đổi các DNNN - quản lý sự thay đổi triệt để tổ chức trong môi trường phi điều tiết” (Barry Spicer, David Emanuel, Michael Powel). Các tác giả đã nghiên cứu quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN dưới khía cạnh giải pháp tái cơ cấu DNNN ở các quốc gia khác nhau, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Đó là các giải pháp có thể áp dụng nhằm thu được thành công trong cải cách các DNNN. Tuy nhiên, các nội dung liên quan đến tăng cường CPH DNNN chưa được đề cập.

ii) tác phẩm “Khu vực VŨ THỊ NGỌC HUYỀN 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA TÀI CHÍNH/HVNH quốc doanh: phạm vi và hạn chế của Nhà nước trong vai trò cổ đông” (của Èslie Cohen, 1997): Thể hiện quan điểm phản đối đầu tư ồ ạt và bao cấp của Nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp thúc đẩy thoái vốn doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam" trình bày những phương pháp và chiến lược nhằm tăng cường quá trình thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước, một vấn đề quan trọng trong việc cải cách kinh tế và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu hút đầu tư tư nhân, cải thiện quản lý tài sản và tăng cường minh bạch trong các giao dịch. Độc giả sẽ nhận thấy rằng những giải pháp này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa nghiên cứu tại việt nam, nơi phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa. Ngoài ra, bài viết Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong việc quản lý nợ công ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh nợ công hiện nay. Cuối cùng, bài viết Tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa nợ công và sự phát triển kinh tế, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình kinh tế hiện tại.