phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển công nghiệp gia công ở Trung Quốc. Chƣơng 2: Chính sách phát triển công nghiệp gia công của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO. Chƣơng 3: Một số đề xuất về chính sách phát triển công nghiệp gia công của Việt Nam sau khi gia nhập WTO rút ra từ bài họcTrung Quốc. 11 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GIA CÔNG Ở TRUNG QUỐC 1.
Lý luận chung về công nghiệp gia công và chính sách phát triển công nghiệp gia công 1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723 – 1790) và lý thuyết lợi thê tương đối của David Ricacđô (1772 – 1823) – cơ sở lý luận cho sự ra đời của công nghiệp gia công ở các quốc gia đang phát triển Kế thừa những nghiên cứu của David Hume (1711 – 1776), lý thuyết lợi thế tuyệt đối – lý thuyết nền tảng của thƣơng mại quốc tế đƣợc Adam Smith nêu ra vào giữa thế kỷ XVIII trong cuốn “Nghiên cứu nguyên nhân, bản chất sự giàu có của các dân tộc”. Theo lý thuyết này, các quốc gia sẽ đạt đƣợc lợi thế trong trao đổi thƣơng mại quốc tế khi tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn so với các quốc gia khác. Lý thuyết này đƣợc minh họa rõ hơn qua ví dụ sau: Bảng 1.1: Chi phí về lao động để sản xuất Sản phẩm Tại Anh (giờ công) Tại Bồ Đào Nha (giờ công) 1 đơn vị lúa mỳ 15 10 1 đơn vị rƣợu vang 10 20 Tại Anh mất 15 giờ để sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ, trong khi tại Bồ Đào Nha chỉ mất 10 giờ.
Do đó, chi phí sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ tại Bồ Đào Nha chỉ bằng 10/15 = 2/3 chi phí lao động sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ tại Anh. Vì vậy, Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa mỳ. Ngƣợc lại, tại Anh chỉ mất 10 giờ để sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang, trong khi tại Bồ Đào Nha mất tới 20 giờ. Do đó, chi phí sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang 12 z ở Anh nhỏ hơn chỉ bằng 10/20 = ½ chi phí sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang tại Bồ Đào Nha.
Vì vậy, Anh có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất rƣợu vang. Nhƣ vậy, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Anh và Bồ Đào Nha đều sẽ thu đƣợc lợi nếu Bồ Đào Nha chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ, nhập khẩu rƣợu vang của Anh; Anh chuyên môn hóa sản xuất rƣợu vang, nhập khẩu lúa mỳ của Bồ Đào Nha. Sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith trên đây đã đặt nền tảng lý luận cho sự ra đời của thƣơng mại quốc tế. Tuy nhiên, theo lý thuyết này, chỉ có những nƣớc có lợi thế tuyệt đối so với nƣớc khác về một mặt hàng và kém lợi thế tuyệt đối về mặt hàng khác thì mới có lợi khi tham gia thƣơng mại quốc tế.
Còn lại, những nƣớc không có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng nào thì lý thuyết này chƣa đề cập đến. Trên cơ sở đó, năm 1817, phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhà kinh tế học ngƣời Anh - David Ricardo đã nghiên cứu và đƣa ra lý thuyết lợi thế tƣơng đối (lý thuyết lợi thế so sánh). Lý thuyết lợi thế tƣơng đối chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất xuất khẩu các hàng hóa mà mình có ƣu thế tƣơng đối và chuyển những ngành nghề không có ƣu thế sang quốc gia khác. Lý thuyết này đƣợc minh họa rõ hơn qua ví dụ sau: Bảng 1.2: Chi phí về lao động sản xuất Sản phẩm Tại Anh (giờ công) Tại Bồ Đào Nha (giờ công) 1 đơn vị lúa mỳ 15 10 1 đơn vị rƣợu vang 30 15 13 z Trong ví dụ này, chi phí sản xuất lúa mỳ tại Bồ Đào Nha chỉ bằng 10/15 = 2/3 tại Anh; chi phí sản xuất rƣợu vang tại Bồ Đào Nha cũng chỉ bằng 15/30 = ½ tại Anh.
Nhƣ vậy, Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng. Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Bồ Đào Nha nên chuyên môn hóa cả lúa mỳ và rƣợu, Anh không nên chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng nào và không có thƣơng mại quốc tế. Tuy nhiên, theo lý thuyết lợi thế tƣơng đối của David Ricacđô, kết luận hoàn toàn khác: Chi phí lao động sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ tại Anh gấp 15/10 = 3/2 tại Bồ Đào Nha. Chi phí sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang tại Anh gấp 30/15 = 2 tại Bồ Đào Nha (30/15).
Vì 3/2 < 2 nên Anh có chi phí tƣơng đối sản xuất lúa mỳ thấp hơn chi phí tƣơng đối sản xuất rƣợu vang. Với cách phân tích tƣơng tự, Bồ Đào Nha có chi phí tƣơng đối sản xuất rƣợu vang thấp hơn lúa mỳ ( ½ < 2/3). Nhƣ vậy, áp dụng lý thuyết lợi thế tƣơng đối của David Ricacđô: Anh và Bồ Đào Nha đều có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mỗi nƣớc có chi phí tƣơng đối thấp hơn và nhập khẩu hàng hóa có chi phí tƣơng đối cao hơn. Cụ thể : Anh chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ và nhập khẩu rƣợu vang từ Bồ Đào Nha, Bồ Đào Nha chuyên môn hóa sản xuất rƣợu vang và nhập khẩu lúa mỳ từ Anh.
Mặc dù lý thuyết lợi thế tƣơng đối của David Ricacđô đã phát triển và giải quyết đƣợc hạn chế trong lý thuyết lợi thế tƣơng đối của Adam Smith, nhƣng mức độ chuyên môn hóa mà ông nêu ra mới chỉ dừng lại ở dạng thành phẩm (nhƣ Bồ Đào Nha chuyên sản xuất rƣợu, Anh chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ). Phát triển lý thuyết trong thời đại ngày nay, thời đại mà trình độ phân công lao động quốc tế đã đạt mức rất cao, mỗi quốc gia không còn sản xuất toàn bộ thành phẩm mà chỉ sản xuất một vài chi tiết, bộ phận, của sản phẩm. Ứng dụng lý thuyết lợi thế tƣơng đối trong trƣờng hợp này, tất cả các quốc gia 14 z sẽ có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất công đoạn có chi phí sản xuất nhỏ hơn công đoạn khác và chuyển những công đoạn sản xuất cho chi phí sản xuất cao hơn sang nƣớc khác. Thông thƣờng, nƣớc có nền tảng công nghệ cao thì chuyên môn hóa các công đoạn kỹ thuật phức tạp (thƣờng là những nƣớc phát triển), còn những công đoạn cần nhiều lao động, kỹ thuật thấp thì thuê các nƣớc đang phát triển có trình độ công nghệ thấp, nguồn lao động dồi dào với chi phí lƣơng thấp thực hiện.
Trên cơ sở đó, ở các nƣớc đang phát triển đã hình thành một lĩnh vực công nghiệp mới, đƣợc gọi là công nghiệp gia công. Khái niệm và nội dung của công nghiệp gia công 1. Khái niệm công nghiệp gia công Hiện nay có nhiều cách hiểu về công nghiệp gia công, từ những góc độ khác nhau thì công nghiệp gia công đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Theo nghĩa hẹp, công nghiệp gia công đƣợc hiểu là lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp trong nƣớc làm thuê cho doanh nghiệp có nguyên vật liệu ở nƣớc ngoài.
Với cách hiểu nhƣ trên, doanh nghiệp gia công chỉ đơn thuần là một doanh nghiệp làm thuê theo đơn đặt hàng trên cơ sở sử dụng nguyên vật liệu của nƣớc ngoài. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động công nghiệp gia công không hoàn toàn đƣợc thực hiện nhƣ vậy, để tận dụng nguồn nguyên liệu giá rẻ, bên thuê vẫn để cho doanh nghiệp gia công sử dụng nguồn nguyên liệu của nƣớc mình, miễn là chất lƣợng nguyên liệu và các tiêu chuẩn kỹ thuật về công nghệ phải đúng theo yêu cầu của đơn đặt hàng. Mặt khác, công nghiệp gia công hiện nay không chỉ thực hiện dƣới hình thức làm thuê theo hợp đồng mà còn đƣợc thực hiện dƣới hình thức doanh nghiệp nƣớc ngoài hợp tác, liên doanh với doanh nghiệp trong nƣớc hoặc đầu tƣ xây dựng xí nghiệp gia công mới từ đầu. 15 z Vì vậy, công nghiệp gia công theo nghĩa rộng hiện nay đƣợc hiểu là lĩnh vực sản xuất kinh doanh chuyên môn hóa mà các doanh nghiệp trong nƣớc thực hiện một hoặc vài công đoạn trong quá trình sản xuất ra sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh cho doanh nghiệp nƣớc ngoài trên cơ sở sử dụng nguyên liệu, bán thành phẩm, công nghệ nhập khẩu dƣới hình thức ký kết hợp đồng gia công, liên doanh hoặc đầu tƣ mới.
Những nội dung cơ bản của công nghiệp gia công * Mục đích của doanh nghiệp khi thuê gia công ở nước đang phát triển Khi gia công sản phẩm ở các nƣớc đang phát triển, các doanh nghiệp thƣờng hƣớng vào các mục đích sau: Thứ nhất, phát huy lợi thế về nguồn lao động dồi dào, trình độ thấp, tiền công rẻ ở nƣớc đang phát triển để tiết kiệm chi phí, từ đó giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trƣờng trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế. Thứ hai, các nƣớc đang phát triển bắt đầu bƣớc vào quá trình công nghiệp hóa muộn hơn các nƣớc phát triển, vì vậy, trữ lƣợng các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ than, khoáng sản, dầu mỏ, đất đai… chƣa đƣợc khai thác hoặc khai thác chƣa hiệu quả. Gia công sản phẩm ở các nƣớc này sẽ giúp cho các doanh nghiệp nƣớc ngoài tận dụng đƣợc nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào đó. Thứ ba, các nƣớc đang phát triển thƣờng có dân số đông nên là những thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, lƣợng cầu cao.
Theo lý thuyết về chu chuyển tƣ bản của Mác, thời gian chu chuyển của tƣ bản tỷ lệ nghịch với tốc độ chu chuyển của tƣ bản. Các doanh nghiệp nƣớc ngoài nếu gia công sản phẩm ngay tại thị trƣờng tiêu thụ sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí lƣu thông, rút ngắn đƣợc thời gian chu chuyển, tăng tốc độ chu chuyển của tƣ bản nhờ đó thu đƣợc nhiều lợi nhuận hơn. 16 z Mặc dù gia công ở nƣớc đang phát triển có những nguồn lợi nhƣ trên, nhƣng khi gia công ở nƣớc ngoài, các doanh nghiệp luôn luôn giữ vững nguyên tắc “không bao giờ gia công ngoài giá trị cốt lõi” nhằm giữ bí mật công nghệ, đảm bảo sức cạnh tranh; nghĩa là thuê gia công nhƣng luôn phải giữ lại các yếu tố để duy trì khả năng cạnh tranh và tài sản trí tuệ.