mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, ao gồm: - Chƣơng I: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững. - Chƣơng II: Địa điểm, cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng III: Đánh giá thực trạng công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững Thủ đô - Chƣơng IV: Đề xuất định hƣớng và các giải pháp phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững Thủ đô 5 z CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tái chế và công nghiệp tái chế chất thải rắn 1. Tái chế chất thải rắn CTR là chất thải dạng rắn phát sinh ra từ các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội. Việc thực hiện nhiều giải pháp khác nhau sao cho công tác quản lý CTR đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu nhất trong bảo vệ môi trƣờng, tiết kiệm kinh phí là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Áp dụng hệ thống phân cấp trong quản lý CTR để đạt đƣợc mục tiêu này đã nhiều nghiên cứu đề cập, trong đó thứ tự ƣu tiên dựa vào việc hạn chế tiêu thụ tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng của phƣơng án quản lý CTR [Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001; Tchobanoglous và Kreith, 2002; UNEP, 2005; Cù Huy Đấu và Trần Thị Hƣờng, 2009].
Hệ thống này đƣợc mô tả trong hình 1.1: Ƣa thích nhất Ít ƣa thích nhất Hình 1. Hệ thống phân cấp trong quản lý, xử lý CTR Nguồn: UNEP [2005] 6 z Theo đó, việc giảm thiểu tối đa sự phát thải của mọi đối tƣợng, từ đó giảm lƣợng chất thải cần xử lý là ƣu tiên hàng đầu đối với các quốc gia. Việc tái sử dụng, tức là sử dụng lại CTR vào một mục đích khác mà không cần qua xử lý, là ƣu tiên thứ hai, tuy nhiên hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào tính năng của chất thải có phù hợp với việc sử dụng vào việc khác hay không. Tái chế là hoạt động ƣu tiên thứ ba và là hoạt động có tính khả thi nhất trong 3 hoạt động đƣợc ƣu tiên.
Khái niệm tái chế CTR Tái chế là một trong những hình thức quản lý chất thải rắn của mỗi quốc gia, có nhiều khái niệm về tái chế, trong đó tiêu iểu là: TheoTchobanoglous và Kreith [2002], tái chế là việc tách một vật liệu phế thải đƣợc đƣa ra từ các dòng thải và xử lý nó để nó có thể đƣợc sử dụng một lần nữa nhƣ là một vật liệu hữu ích cho sản xuất các sản phẩm có thể tƣơng tự hoặc không so với vật liệu gốc. Theo Cơ quan ảo vệ môi trƣờng Hoa Kỳ EPA [2009], tái chế là quá trình thu thập và chế biến vật liệu mà chúng có thể bị vứt bỏ nhƣ rác và iến chúng thành các sản phẩm mới. Theo UNEP [2005]: Tái chế là quá trình tách, thu gom và chế biến hoặc chuyển đổi các sản phẩm đã qua sử dụng hoặc các chất thải thành vật liệu mới hoặc sản phẩm mới. Quá trình tái chế liên quan đến một loạt các ƣớc để sản xuất sản phẩm mới.
Tại Việt Nam, khái niệm tái chế cũng đƣợc định nghĩa tại nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau. Tác giả Cù Huy Đấu và Trần Thị Hƣờng [2009] đã đƣa ra định nghĩa: ―Tái chế và hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất‖ Theo Trần Hiếu Nhuệ [2005], tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. 7 z Khái niệm tái chế cũng đƣợc nêu trong các văn ản quy phạm pháp luật, gần đây nhất khái niệm tái chế CTR đƣợc nhắc đến trong Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu: ―Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải‖. Với cách diễn đạt này, có thể làm ngƣời đọc chƣa nhận thức đƣợc toàn bộ quá trình tái chế là biến chất thải thành 1 thành phẩm có thể đƣợc sử dụng trong xã hội mà rất dễ để đƣợc hiểu là tái chế chỉ dừng lại ở việc biến chất thải thành các nguyên liệu để đƣa vào quá trình sản xuất.
Trong khi đó, trong 19/2015/NĐ-CP hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014 thì quy định khá rõ về việc các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nƣớc có trách nhiệm ƣu tiên mua sản phẩm từ hoạt động tái chế (có nghĩa là các sản phẩm này là các thành phẩm). Nghiên cứu về các loại hình tái chế: Theo Nguyễn Đức Khiển [2003], Cù Huy Đấu và Trần Thị Hƣờng [2009], các loại hình tái chế có thể chia thành: (i) Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác, xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm khác.; (ii): Tái chế nhiệt: bao gồm các hoạt động khôi phục năng lƣợng từ rác thải. Cũng có thể coi hoạt động tái chế nhƣ hoạt động tái sinh lại chất thải thông qua: Tái sinh sản phẩm chuyển hóa hóa học: chủ yếu dùng phƣơng pháp đốt để thành các sản phẩm khí đốt, hơi nóng và các hợp chất hữu cơ. Tái sinh các sản phẩm chuyển hóa sinh học: chủ yếu thông qua quá trình lên men, phân hủy chuyển hóa sinh học, để thu hồi các sản phẩm nhƣ: phân ón, khí mêtan, protêin, các loại cồn và nhiều hợp chất hữu cơ khác.
Tái sinh năng lượng từ các sản phẩm chuyển hóa: từ các sản phẩm chuyển hóa ằng quá trình sinh học, hóa học có thể tái sinh năng lƣợng ằng quá trình đốt tạo thành hơi nƣớc và phát điện. - Một số vật liệu có thể tái chế trong chất thải rắn. 8 z Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt nam đều thống nhất rắng, về lý thuyết, trong thành phần chất thải rắn có rất nhiều vật liệu có thể tái chế [Nguyễn Văn Phƣớc, 2008; Cù Huy Đấu và Trần Thị Hƣờng 2009; Khalid et al., 2011; Tietenberg and Lewis, 2011]. Các vật liệu có thể tái chế bao gồm: + Chất thải hữu cơ từ thực phẩm, phụ phẩm trong nông nghiệp: đƣợc sử dụng nhƣ là nguyên liệu chính để sản xuất phân vi sinh (compost).
+ Phân gia súc: Phân gia súc là nguyên liệu để sản xuất khí sinh học (biogas) và phân hữu cơ đã đƣợc phân hủy. + Kim loại (đồng, sắt, thép, nhôm, chì,…): các chất thải rắn là kim loại nêu trên đƣợc tái chế hoặc thu hồi để tạo ra nguyên liệu hoặc sản phẩm mới cùng loại. + Nhựa: nhựa phế thải đƣợc tái chế để sản xuất hạt nhựa và các sản phẩm bằng nhựa. + Giấy vụn: đƣợc sử dụng để tái sản xuất ra các loại giấy + Thủy tinh: làm nguyên liệu để nấu thủy tinh tạo ra các sản phẩm thủy tinh + Cao su: tái sản xuất thành các vật liệu cao su và vật liệu xây dựng nhƣ: dải phân cách đƣờng, gạch + Các chất trơ: tái sản xuất thành gạch không nung.
+ Các loại chất trơ có nhiệt: tái chế làm nhiên liệu 1. Công nghiệp tái chế CTR. Hoạt động tái chế CTR khi ứng dụng trên thực tế đã trở thành các hoạt động kinh tế và đƣợc xác định là hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp. Theo Bách khoa toàn thƣ mở,công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật [https://vi. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấycông nghiệp tái chế CTR là một trong những phân ngành chính của ngành công nghiệp môi trƣờng. Đây là ngành công nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng từ chính việc giải quyết các vấn đề môi trƣờng, đã 9 z và đang có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho phát triển theo hƣớng bền vững, chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu công nghiệp [OECD, 1996; UNEP, 2005; Tietenbergand Lewis, 2011]. Tại Việt Nam, khái niệm ngành công nghiệp tái chế CTR cũng chƣa đƣợc đề cập cụ thể.
Không đƣa ra khái niệm cụ thể ngành công nghiệp tái chế CTR, nhƣng nhiều nghiên cứu đã đề cập khá rõ về các hoạt động liên quan đến ngành này, bao gồm: Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển CTR; Hoạt động sơ chế, làm sạch CTR; Hoạt động sản xuất vật liệu dùng cho các ngành công nghiệp khác; Hoạt động sản xuất sản phẩm tiêu dùng cho xã hội [OECD, 1996; UNEP, 2005; Nguyễn Văn Phƣớc, 2008]. Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu chỉ rõ về sự hình thành và phát triển của công nghiệp tái chế CTR với vai trò quan trọng của Nhà nƣớc [OECD, 1996; UNEP, 2005; Tietenberg and Lewis, 2011]. Vai trò của công nghiệp tái chế chất thải rắn đối với phát triển bền vững 1. Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững Nghiên cứu về PTBV đã đƣợc thực hiện rất nhiều trên thế giới và ở Việt Nam.
Theo Tatyana [2004], PTBV là một thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới mặc dù khái niệm vẫn còn khá mới mẻ và thiếu giải thích thống nhất. Cho đến nay, khái niệm PTBV và nội hàm của nó vẫn đang đƣợc phát triển, định nghĩa của thuật ngữ này liên tục đƣợc sửa đổi và mở rộng. Theo Trƣơng Quang Học [2011], thuật ngữ "phát triển ền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lƣợc ảo tồn Thế giới (công ố ởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trƣờng sinh thái học". Khái niệm này đƣợc phổ iến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy an Môi trƣờng và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy an Brundtland).