Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2005. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
Nhận xét và một số kinh nghiệm. luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Kinh tế công nghiệp là lĩnh vực quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, có ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Phát triển kinh tế công nghiệp là khâu đột phá trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
Vì thế, lĩnh vực này luôn được Đảng và Nhà nước xác định là mặt trận hàng đầu, quan trọng nhất trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, vấn đề này đã thu hút nhiều nhà khoa học, các cơ quan quan tâm nghiên cứu. Có thể khái quát thành các nhóm công trình khoa học sau đây. Nhóm nghiên cứu về phát triển công nghiệp của một số nƣớc trên thế giới Quá trình đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được những thành tựu cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nỗ lực đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình này, rất nhiều yêu cầu, nhiệm vụ được đặt ra. Do đó, Việt Nam cần xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách phát triển sản xuất hợp lý cũng như các định hướng đầu tư, phát triển thương mại vừa phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước vừa đáp ứng và hỗ trợ cho các đòi hỏi trong quá trình hợp tác quốc tế và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, để thực hiện các nhiệm vụ trên một cách có hiệu quả, bên cạnh việc nghiên cứu lý thuyết kinh tế của các thị trường hiện đại, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước ngoài thì việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về kinh tế, văn hóa, địa lý v.
có những thành công đáng kể trong quá trình chuyển sang phát triển kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp luan an hóa, hiện đại hóa đất nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách cho Việt Nam trên con đường phát triển đất nước. Do đó, đây cũng là nội dung được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Trung Quốc là quốc gia láng giềng của Việt Nam. Những bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế của Trung Quốc được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phạm Thái Quốc, Trung Quốc quá trình công nghiệp hóa trong 20 năm cuối thế kỷ XX [163]; Lê Hữu Tầng, Lưu Hàm Nhạc, Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc [173]; Bùi Văn Hưng, Công nghiệp hóa nông thôn Trung Quốc thời kỳ cải cách và mở cửa [123] v. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công nghiệp hóa ở Trung Quốc, tác giả Phạm Thái Quốc đã nghiên cứu thực trạng quá trình công nghiệp hóa ở Trung Quốc từ năm 1979 đến nay về các khía cạnh: chuyển dịch cơ cấu ngành, nội bộ từng ngành, các điều kiện kinh tế và hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, chính sách đầu tư và thương mại, vấn đề phát triển nguồn nhân lực và khoa học kỹ thuật cho công nghiệp hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá về kết quả đạt được, những tồn tại, vấn đề phát sinh và hướng giải quyết tồn tại đó. Việc nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa ở Trung Quốc đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế công nghiệp Việt Nam nói riêng chịu sự tác động của Trung Quốc, nhất là sau khi đất nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vấn đề này được nghiên cứu bởi tác giả Lê Đăng Minh, Trung Quốc sau gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Tác động và những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh một số ngành công nghiệp Việt Nam [142] v. Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã có những tác động rất lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam, cụ thể, về lĩnh vực thu hút vốn đầu tư FDI, chi phí đầu vào của sản xuất hàng công nghiệp, thị trường xuất khẩu hàng công nghiệp, thị trường nội luan an địa Việt Nam, vấn đề việc làm của người lao động trong các ngành công nghiệp v. Hơn thế nữa, sự kiện này còn góp phần làm nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia chung dòng văn hóa Á Đông. Mối quan hệ giao lưu hợp tác giữa hai quốc gia ngày càng phát triển. Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu giữa hai quốc gia cũng được các nhà nghiên cứu chú trọng. Các công trình tiêu biểu như: Goro Ono, Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới một số kinh nghiệm của Nhật Bản [90]; Nhiều tác giả, Chính sách công nghiệp của Nhật Bản [150]; Hồ Văn Thông, Kinh nghiệm khai thác các nguồn lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nhật Bản [179]; Nguyễn Minh Tú, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học rút ra cho công nghiệp hóa của Việt Nam [198]; Kazushi Ohkawa, Hirohisa Kohama, Kinh nghiệm công nghiệp hóa của Nhật Bản và sự thích dụng của nó đối với các nền kinh tế đang phát triển [128].
Có thể khẳng định rằng, chính sách của Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ lĩnh vực nào. Chính sách đúng đắn, phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và ngược lại. Trong số các công trình nghiên cứu trên, đáng kể phải đề cập đến công trình Chính sách công nghiệp của Nhật Bản. Cuốn sách này là kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc của tập thể tác giả người Nhật Bản.
Nền kinh tế Nhật Bản đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, trong suốt thời gian dài từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 1980 với ba thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất (1945 - 1960), gồm các giai đoạn tái thiết và tạo đà cho sự tăng trưởng nhanh. Đây cũng chính là giai đoạn phục hồi nền kinh tế từ khi ra khỏi chiến tranh và sau đó đã duy trì được mức tăng trưởng xấp xỉ 10%. Thời kỳ thứ hai là kỷ nguyên tăng trưởng nhanh của những năm 1960 và kéo dài đến trước cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới lần thứ nhất vào năm 1973 với tốc độ tăng trưởng chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản.
Thời kỳ thứ ba được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, chấm dứt kỷ nguyên tăng trưởng luan an nhanh của nền kinh tế Nhật Bản. Những sự bứt phá đi lên thần kì của nền kinh tế, chính sách tạo động lực cho kinh tế phát triển, việc khắc phục thảm họa chiến tranh nhanh chóng, các vấn đề phát triển kinh tế công nghiệp v.v… của Nhật Bản là những kinh nghiệm bổ ích, gợi mở cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc - quốc gia có sự khởi sắc mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã trở thành hiện tượng tiêu biểu của các nước phát triển trên thế giới, cũng mang lại những bài học quý giá cho Việt Nam trên con đường đổi mới, phát triển đất nước. Do đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về quốc gia này như: Vũ Đăng Hinh, Hàn Quốc nền công nghiệp trẻ trỗi dậy [95]; Nguyễn Quang Hồng, Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hàn Quốc trong giai đoạn 1960 - 1995.
Kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam [116]; Trịnh Trọng Nghĩa, Chiến lược mới phát triển công nghiệp Hàn Quốc trong thời gian 2004 - 2020 [149] v. Các giai đoạn phát triển công nghiệp Hàn Quốc với chiến lược được xác định rõ ràng: ưu tiên phát triển công nghiệp dựa vào thị trường nội địa thông qua chiến lược thay thế nhập khẩu (giai đoạn 1953 - 1961); quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa dựa vào thị trường thế giới và liên kết quốc tế (giai đoạn 1962 - 1979); thời kỳ điều chỉnh chiến lược để bước vào giai đoạn phát triển công nghiệp có kỹ thuật cao (giai đoạn từ 1980 trở đi); chiến lược gia nhập hàng ngũ các nước tư bản phát triển để hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội v. Chiến lược rõ ràng, đúng hướng, phù hợp đã dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Hàn Quốc, tác động đến các lĩnh vực khác, góp phần đưa đất nước này nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, vươn lên và đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển trên thế giới. Bên cạnh việc nghiên cứu sự phát triển công nghiệp của từng quốc gia, một số công trình nghiên cứu tổng thể các quốc gia để rút ra những kinh nghiệm, bài học, đề xuất những sự vận dụng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Nhờ những kinh nghiệm thành công của các quốc luan an gia đi trước nên Việt Nam có thể học hỏi, áp dụng và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có công trình của tác giả Trần Thị Tri, Kinh nghiệm công nghiệp hóa của NIEs Đông Á và sự vận dụng vào Việt Nam [195]. Trong nhiều năm qua, công nghiệp hóa ở các nước và lãnh thổ công nghiệp mới (NIEs) Đông Á được coi là những mô hình tương đối thành công. Với xuất phát điểm là các nền kinh tế bị tàn phá và kiệt quệ sau chiến tranh, vấn đề quan trọng nhất ở các quốc gia này là tái thiết nền kinh tế.
Chính sách công nghiệp ở các quốc gia này, tựu chung lại, có hai đặc điểm chính; một là, tập trung vào xây dựng cơ sở kinh tế trong nước; hai là, công nghiệp hóa hướng nội, thay thế nhập khẩu được chuyển hướng thành công nghiệp hóa hướng ngoại, khuyến khích xuất khẩu.