Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá - Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá - Chương 3: Chính sách tín dụng của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá và khả năng áp dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA HÀN QUỐC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỖI QUỐC GIA. Khái niệm tín dụng và chính sách tín dụng. Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định người sở hữu thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Thực chất, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng rằng lượng vốn cho vay sẽ được hoàn trả lại trong tương lai cùng với chi phí của khoản tín dụng đó. Tín dụng theo nghĩa rộng bao gồm hai mặt là huy động vốn và cho vay vốn. Nguyên nhân khách quan của sự tồn tại và phát triển quan hệ tín dụng là mâu thuẫn vốn có của quá trình tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội. Đó là, tại cùng một thời điểm, có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần bổ sung vốn.
Nếu tình trạng này không được giải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngưng trệ ở chủ thể này trong khi vốn lại đang nằm im không được sử dụng ở một chủ thể khác. Kết quả là nguồn lực của xã hội không được sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra 5 z liên tục. Tín dụng thực chất là chiếc cầu nối liền nhu cầu tiết kiệm với nhu cầu đầu tư của xã hội. Tín dụng tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hoá quyết định. Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phương thức sản xuất trong xã hội đó. Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tín dụng đã trải qua một quá trình phát triển từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, từ đơn giản đến phức tạp về kĩ thuật và nghiệp vụ. Các hình thức tín dụng cũng ngày càng phong phú hơn.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, người ta chia tín dụng ra thành ba loại, đó là: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn, tín dụng gồm hai loại là tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, ta có tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng, v.v… Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nguồn cung cấp tín dụng chính là các tổ chức kinh doanh và các cá nhân trong đó tín dụng do các ngân hàng cung cấp là phổ biến. Khái niệm chính sách tín dụng Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng vốn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và một hệ thống lãi suất mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.
Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng bao gồm các vấn đề có liên quan đến việc cấp tín dụng như: quy mô của các khoản cho vay, mức lãi 6 z xuất và, kỳ hạn cho vay, các yêu cầu đảm bảo cho các khoản vay, phạm vi cho vay, và một số nội dung khác. Chính sách tín dụng được xây dựng trên những cơ sở sau: - Nhu cầu tín dụng của khách hàng, khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của hoạt động kinh doanh của họ. - Kết quả phân tích những xu hướng trong quá khứ và dự đoán tương lai của các rủi ro tín dụng. - Các chính sách khác của chính phủ như chính sách tỷ giá, chính sách phát triển hệ thống tài chính v.v cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng.
Vai trò của chính sách tín dụng * Chính sách tín dụng đóng vai trò to lớn trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá thông qua tạo nguồn vốn đầu tƣ cho công nghiệp hoá. Công cuộc công nghiệp hoá đòi hỏi phải đầu tư một khối lượng vốn lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực, phát triển các ngành công nghiệp mới. Nếu chỉ dựa trên nguồn vốn tự có mà không sử dụng tín dụng, các tổ chức kinh doanh sẽ không có khả năng đáp ứng yêu cầu về quy mô vốn để tham gia vào các ngành công nghiệp mới, mở rộng quy mô của hoạt động kinh doanh, đáp ứng những yêu cầu của công nghiệp hoá. Nhờ sử dụng các nguồn cung cấp tín dụng các tổ chức kinh doanh có đủ vốn để đầu tư vào các ngành đòi hỏi quy mô vốn lớn theo yêu cầu của công nghiệp hoá, tạo ra khả năng cạnh tranh cao.
* Chính sách tín dụng là công cụ đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế. Một quốc gia không thể tăng trưởng kinh tế nếu hệ số mức đầu tư (hệ số ICOR) cần có không đạt mức hợp lý. Nguồn vốn đầu tư gắn liền với hệ số 7 z ICOR bao gồm nguồn tích luỹ trong nước, nguốn vốn từ nước ngoài với các hình thức viện trợ, tín dụng và đầu tư trực tiếp. Việc huy động các nguồn vốn này gắn liền với chính sách tín dụng của chính phủ.
* Chính sách tín dụng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua “đi vay để cho vay”. * Chính sách tín dụng còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng giao lƣu kinh tế quốc tế. Hoạt động tín dụng sẽ cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu, từ đó, tạo điều kiện để các tổ chức kinh doanh tham gia vào thị trường quốc tế. * Chính sách tín dụng đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ điều chỉnh nền kinh tế thị trƣờng ở tầm vĩ mô của nhà nƣớc.
Thông qua hoạt động tín dụng làm biến đổi nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu, góp phần làm cho chu kì hoạt động của tiền tệ rút ngắn về thời gian, nâng cao vòng quay của tiền tệ. Bằng cách đó tín dụng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi động và cạnh tranh của kinh tế thị trường. * Chính sách tín dụng có tác dụng chống lạm phát. Thông qua tín dụng chính phủ có thể điều chỉnh sự chuyển động của nền kinh tế thị trường khi quá nóng hoặc quá lạnh, tức là khi tăng trưởng quá mức hoặc khi suy thoái.
Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay; huy động tiết kiệm dài hạn, huy động tiết kiệm đảm bảo giá trị bằng vàng, phát hành công trái, kì phiếu , chính sách tín dụng có tác dụng điều chỉnh trong cả hai trường hợp trên. QUAN ĐIỂM VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ 1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Hàn Quốc thời điểm sau chiến tranh. Triều Tiên đã bị Nhật Bản xâm chiếm từ năm 1910 đến 1945 và đã bị chia cắt thành miền Nam và miền Bắc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Phía Bắc Triều Tiên cũ trở thành Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và phiá Nam trở thành Hàn Quốc. Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (năm 1950-1953), nền kinh tế Hàn Quốc ở mức độ phát triển thấp và Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Các cơ sở công nghiệp của đất nước được xây dựng trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng đã bị phá hủy gần hết. Là nước nông nghiệp với 2/3 dân số trong độ tuổi lao động sống bằng nghề nông nên trình độ kỹ thuật của Hàn Quốc là rất thấp.
Mặc dù vậy, so với một số quốc gia khác như Malaixia và Indônêxia thì Hàn Quốc đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn trong một số ngành công nghiệp như công nghiệp chế tạo do đã trải qua thời kỳ phát triển công nghiệp khi còn là thuộc địa của Nhật Bản. Nền kinh tế nằm trong tình trạng lạm phát kinh niên và không có khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người tiêu dùng. Quy mô của thị trường nội địa là nhỏ bé. Dân số tăng nhanh chóng, tốc độ đô thị hoá ồ ạt và nạn thất nghiệp càng làm trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế - xã hội sau chiến tranh.
Ra khỏi cuộc chiến tranh, Hàn Quốc hoàn toàn không có tích luỹ nên đã rơi vào tình trạng khan hiếm vốn nghiêm trọng. Nền kinh tế ở giai đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ và các khoản vay tín 9 z dụng nước ngoài chủ yếu là của Mỹ và Nhật Bản. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Hàn Quốc có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược đối với Mỹ trong cuộc đối đầu với các lực lượng cộng sản nên Hàn Quốc đã nhận được những khoản hỗ trợ không lồ của Mỹ. Sau cuộc cải cách ruộng đất đầu những năm 50 và việc quy tụ tầng lớp nông dân có đất, đã xuất hiện thêm các doanh gia mới.
Do thiếu nguồn vốn , các tổ chức kinh doanh ở Hàn Quốc trong thời kỳ này tài trợ cho các hoạt động của mình chủ yếu bằng các khoản vay từ nước ngoài và từ các ngân hàng của nhà nước. Mức thu nhập đầu người rất thấp, sự thay đổi giá cả bất thường, mức độ lạm phát cao của Hàn Quốc khiến cho hầu hết các nhà nghiên cứu về kinh tế Hàn Quốc đều cho rằng giai đoạn này là thời kỳ ảm đạm nhất của nền kinh tế Hàn Quốc.