Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam 6 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. KHÁI LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (FDI) VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (CNHT) 1.1 Tổng quan về FDI 1.1 Khái niệm FDI Năm 1997 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp cận sở hữu.
Synthia day, Wallace, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty xuyên quốc gia viết: “Đầu tư nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một hàng “công ty” ở nước ngoài hay sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể”. Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thường đi theo cách tiếp cận nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nước ngoài, bên cạnh các nguồn vốn khác như: tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Theo Luật Đầu tư năm 2005 “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp 7 z luật có liên quan. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.2 Đặc điểm FDI Từ những quan điểm lý thuyết trên, có thể rút ra những đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại.
- Đầu tư FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phần để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. - Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định. Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. - Đây là hình thức nhà đầu tư tự bỏ vốn cùng điều hành nguồn vốn đó theo nhu cầu kinh doanh của mình.
Họ sẽ bị lỗ hay hưởng lãi vì vậy nước nhận đầu tư sẽ không phải tham gia vào các hoạt động đầu tư loại này trừ việc điều hành bằng hành lang pháp lý của mình. - Đầu tư trực tiếp chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật thị trường, vì vậy lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư. Lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có). - Thông qua FDI, nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội học hỏi được công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiếp thu được kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển.
Đây cũng chính là ưu điểm mà các hình thức đầu tư khác không có được. 8 z - Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ dự án đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được. Các đặc điểm trên đã tạo một ưu thế chắc chắn FDI hơn những hình thức đầu tư khác, và FDI trên thế giới hiện nay là hình thức đầu tư được quan tâm đặc biệt.3 Các hình thức chủ yếu của FDI Hiện nay, có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sau đây: * Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC) BCC là văn bản được ký kết giữa 2 hoặc nhiều bên (nước ngoài và nước sở tại – các bên hợp doanh), nhằm tiến hành một hoặc nhiều hoạt động đầu tư tại nước sở tại trên cơ sở quy định quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Phương thức hoạt động là các tổ chức kinh tế trong nước sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm cho phía nước ngoài và nhận lại tiền công lao động hoặc bằng sản phẩm.
Khi hết hạn hợp đồng, các máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, gia công có thể được bán lại cho doanh nghiệp. * Doanh nghiệp liên doanh (Joint – Venture Enterprise) Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp của nước nhận đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Các bên tham gia góp vốn cùng điều hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan của Việt Nam.
Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp khoảng từ 30-50 năm. Doanh nghiệp này hoàn toàn tự chủ về tài chính vì vốn pháp định do mỗi bên liên doanh đóng góp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh muốn tăng vốn phải được sự chấp nhận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 9 z * Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreign owned capital) Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân riêng với 100% vốn của phía nước ngoài.
Loại hình doanh nghiệp này do phía nước ngoài toàn quyền quản lý, điều hành, tự tổ chức sản xuất kinh doanh và chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp không được giảm vốn pháp định. Ngoài ra còn có hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn và còn có nhiều hình thức biến tướng khác tùy theo mục đích và đặc điểm trong yêu cầu tiếp nhận đầu tư. Thí dụ, đối với lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên có hình thức hợp đồng chia sản phẩm, trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng có hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.
Hoặc hình thức đầu tư vào khu chế xuất hiện nay cũng có nhiều cải biến, ví dụ người ta bắt đầu chú ý đến hình thức xây dựng khu công nghiệp tập trung hoặc có nước lại quan tâm xây dựng khu kinh tế 1.4 Vai trò của FDI Bổ sung nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Ở nước ta, nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển chủ yếu là từ ngân sách, bên cạnh đó nguồn vốn trực tiếp từ nước ngoài FDI cũng góp một phần quan trọng trong đó. Nước ta là một nước đang phát triển với mục tiêu năm 2020 cơ bản là nước công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng trong khi đó nguồn vốn tích lũy được không nhiều vì thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng".
Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì 10 z không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương.
Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.