đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 2 giới thiệu về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về vai trò và mối quan hệ giữa phát triển thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả giới thiệu về quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các chỉ số đo lường các biến và phương pháp nghiên cứu được áp dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ là một bức tranh thật chi tiết phản ánh mối liên hệ giữa sự phát triển thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua thống kê mô tả và ước lượng mô hình hồi quy.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương 5 là phần tóm tắt kết quả nghiên cứu từ các phần trước, thông qua đó đề xuất một số khuyến nghị và các chính sách liên quan. LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC Trang 5 TRẦN TRUNG HIẾU Lớp: ME06A CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, 2 phần chính sẽ được tập trung trình bày: (i) lý thuyết nền tảng về vai trò của phát triển thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế; và (ii) tóm tắt các nghiên cứu trước, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình và giả thuyết cho nghiên cứu này. Lý thuyết nghiên cứu 2. Thị trường tài chính Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính.
Các loại tài sản tài chính có thể kể đến như tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và cả những công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng giao sau và hợp đồng quyền chọn. Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và Chính phủ là những người tham gia mua và bán các loại tài sản tài chính – hàng hoá của thị trường tài chính (Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011). Cấu trúc thị trường tài chính: Dựa vào thời hạn và tính chất của các công cụ tài chính giao dịch, người ta có thể chia thị trường tài chính chính thức ra thành hai loại chính: thị trường tiền tệ (là nơi diễn ra giao dịch mua bán các công cụ nợ ngắn hạn và thường có thời gian đáo hạn ít hơn một năm), và thị trường vốn (là nơi diễn ra giao dịch mua bán các loại tài sản tài chính hoặc công cụ nợ trung hoặc dài hạn). Thị trường tiền tệ lại bao gồm thị trường cho vay ngắn hạn, thị trường liên ngân hàng, và thị trường hối đoái.
Thị trường vốn có thể chia thành thị trường cho vay dài hạn có thế chấp bất động sản, thị trường tín dụng thuê mua (leasing), và thị trường chứng khoán. Vai trò của thị trường tài chính: Trong suốt quá trình hoạt động, bất cứ đơn vị nào cũng có lúc tạm thời thặng dư nhưng cũng có lúc tạm thời thiếu hụt vốn. Lúc tạm thời thặng dư, đơn vị cần tìm nơi đầu tư để vốn sinh lợi, giúp tăng hiệu suất sử dụng vốn. Lúc tạm thời thiếu hụt vốn, đơn vị cần tìm nguồn tài trợ để bù đắp thiếu hụt nhằm đảm bảo cho hoạt động được liên tục và hiệu quả hơn.
Trong những trường hợp này, LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC Trang 6 TRẦN TRUNG HIẾU Lớp: ME06A thị trường tài chính đóng một vai trò hết sức quan trọng, là nơi gặp gỡ giữa các nhà đầu tư để quyết định giá cả tài sản tài chính, cung cấp cho nhà đầu tư khả năng giải quyết vấn đề thanh khoản khi nhà đầu tư muốn bán lại tài sản tài chính, thông qua đó tiết kiệm được chi phí thông tin, nâng cao hiệu quả giao dịch (Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011). Vai trò của thị trường tài chính trong hệ thống tài chính Thị trường tài chính Tổ chức tài chính trung gian • Hộ gia đình • Hộ gia đình • Các nhà đầu tư • Các nhà đầu tư • Các doanh nghiệp • Huy động vốn • Các doanh nghiệp • Chính phủ • Phân bổ vốn • Chính phủ • Nhà đầu tư nước • Nhà đầu tư nước ngoài ngoài Đơn vị thiếu hụt vốn Đơn vị thặng dư vốn Nguồn:Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) 2. Phát triển thị trường tài chính Phát triển thị trường tài chính được xem như là một sự cải tiến về chất lượng, số lượng và hiệu quả của hệ thống tài chính. Từ một quan điểm kinh tế cơ bản, Levine (1997) cho rằng sự phát triển của thị trường tài chính là do sự tồn tại của những rào cản thị trường trong các hình thức giao dịch và chi phí thông tin, điều này đã tạo ra động lực cho sự xuất hiện của thị trường tài chính, các tổ chức tài chính và trung gian tài chính, thông qua đó góp phần làm giảm các chi phí có liên quan đến tiết kiệm và quyết định đầu tư, nâng cao hiệu quả việc phân bổ các nguồn tài nguyên có sẵn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Quá trình này bao gồm sự kết hợp của nhiều hoạt động và tổ chức, xảy ra khi các công cụ tài chính, thị trường và các trung gian được cải thiện LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC Trang 7 TRẦN TRUNG HIẾU Lớp: ME06A tốt hơn, sau đó chúng ảnh hưởng đến chi phí thông tin, chi phí thực hiện và chi phí giao dịch (Levine, 2005). Do đó, phát triển tài chính bao gồm các cải tiến trong việc phân bổ nguồn lực, giám sát đầu tư, huy động tiết kiệm, đa dạng hóa và quản lý rủi ro. Song song đó, việc tăng cường kiểm soát, quản lý, giám sát các doanh nghiệp sau khi cung cấp các dịch vụ tài chính và các điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi hàng hóa - dịch vụ cũng là chất kích thích để phát triển tài chính. Vai trò của hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính đã được biết đến như một đỉnh cao trong những thập kỷ qua.
Schumpeter (1911) lập luận rằng các dịch vụ được cung cấp bởi các trung gian tài chính giúp cho việc huy động nguồn tiết kiệm, đánh giá dự án, quản lý rủi ro, giám sát quản lý đối với các doanh nghiệp được dễ dàng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao dịch, góp phần đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế. Sau này, các nghiên cứu của Goldsmith (1969), Mckinnon (1973) và Shaw (1973) đưa ra giả thuyết cho rằng tự do hóa tài chính và sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tác động lên tốc độ tăng trưởng của tiết kiệm, đầu tư. Mối quan hệ này càng được làm rõ hơn khi nghiên cứu của King và Levine (1993) ra đời, cho rằng thị trường tài chính và các trung gian tài chính có khả năng thúc đẩy quá trình tích lũy vốn và các yếu tố tăng trưởng năng suất, là một chìa khóa quan trọng dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Niềm tin về sự phát triển tài chính là một yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế ngày càng được củng cố khi Boyd và Prescott (1986), Greenwood và Jovanovic (1990) cho rằng thông qua việc cung cấp các thông tin chính xác hơn về công nghệ sản xuất cũng như các hoạt động kiểm soát gắt gao về quá trình hợp tác giữa các nhà đầu tư, giúp nâng cao hiệu quả của quá trình phân bổ nguồn lực và thúc đẩy quá trình tăng trưởng.
Bên cạnh đó, thông qua việc chuẩn bị tốt cho các hoạt động quản lí rủi ro, cải thiện tính thanh khoản cho các nhà đầu tư, thị trường tài chính và các trung gian tài chính có thể thúc đẩy quá trình đầu tư với mức lợi nhuận cao hơn (Bencivenga và Smith, 1991; Greenwood và Smith, 1997). LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC Trang 8 TRẦN TRUNG HIẾU Lớp: ME06A Một số mô hình lý thuyết đã được điều tra và làm rõ về vai trò của phát triển thị trường tài chính trong tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là một hàm ý cho vai trò cụ thể của các trung gian tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Tác động này được thể hiện rõ nét qua mô hình của Pagano (1993) – mô hình “AK”: Yt = AKt (2.1) Trong đó Y là tổng sản lượng (aggregate output), K là tổng quỹ vốn (aggregate capital stock), A là năng suất xã hội của vốn (social productivity of capital).
Giả định năng suất xã hội của vốn (A) là không đổi, lúc này sự gia tăng của tổng sản lượng (Y) phụ thuộc vào tổng quỹ vốn (K) (bao gồm nguồn vốn vật chất và vốn con người). Để đơn giản, mô hình giả định rằng không có sự tăng trưởng dân số và chỉ sản xuất một loại hàng hóa. Chắc chắn rằng, hàng hóa này chỉ có thể sử dụng để đầu tư hoặc tiêu dùng, nếu hàng hóa này được sử dụng để đầu tư với tỷ lệ khấu hao là δ thì tổng mức đầu tư là: It = Kt+1 – (1-δ)Kt (2.2) Trong một nền kinh tế khép kín, không có chính phủ, thị trường cân bằng đòi hỏi tổng tiết kiệm St bằng với tổng đầu tư It. Thông qua các tổ chức tài chính, tiết kiệm được chuyển giao cho các khoản đầu tư, nếu là giá trị một đồng được giữ lại đầu tư thì là giá trị bị giữ lại bởi các tổ chức tài chính: St = It.3) Từ biểu thức (2.1), tốc độ tăng trưởng ở thời điểm t + l là: gt+1 = (Yt+1 / Yt) – 1 = (Kt+1/ Kt) – 1.4) Sử dụng biểu thức (2.3) và một số thuật toán biến đổi, tốc độ tăng trưởng ổn định được viết như sau: g = A*(I/Y) – δ = A s – δ.5) Trong đó, là tỷ lệ đầu tư trên tiết kiệm I/S, s là tỷ lệ tiết kiệm S/Y, g là tốc độ tăng trưởng ổn định, δ là tỷ lệ khấu hao hàng năm.
Như vậy, thị trường tài chính có thể tác động tới các yếu tố A, s để làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia theo các cách làm giảm tỷ lệ làm tăng tỷ lệ chuyển tiết kiệm sang đầu tư LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC Trang 9 TRẦN TRUNG HIẾU Lớp: ME06A hoặc cũng có thể làm tăng năng suất xã hội của vốn (A) thông qua việc phân bổ nguồn vốn cho các dự án có mức sinh lời cao nhất, góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng (Panago, 1993).