CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN c ơ BẢN VÊ TÍN DỤNG KINH TÊ BIEN 1.1/ Sự cần thiết phát triển kinh tế biển. Sự cần thiết phát triển kinh tế biển Việt Nam được xem xét ở những khía cạnh sau đây: 1.1/ Về trình độ phát triển kinh tê' Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới kinh tế đang mang lại cho nền kinh tế Việt Nam tốc độ tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên xét về mọi mặt,Việt Nam vẫn đang nằm trong nhóm những nước kém phát triển của thế giới.
l / Về trình độ phát triển kinh t ế và thu nhập. Theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, năm 2001 Việt Nam mới đạt 415 USD (giá hiện hành), bằng 1/86 của Mỹ, 1/80 của Nhật Bản, 1/50 của Singapore, 1/30 của Đài Loan, 1/21 của Hàn Quốc, 1/9 của Malaysia, 1/4,5 của Thái Lan, 1/2 của Trung Quôc và bằng khoảng 1/3 mức của các nước đang phát triển nói chung. Nếu tính GDP/người theo sức mua tương đương cũng năm 2001, Việt Nam đạt mức 1.996 USD bằng 1/17 của Mỹ, 1/13 của Nhật Bản, 1/12 của Singapore, 1/9 của Hàn Quốc 1/4 5 của Malaysia, 1/3 Thái Lan và 1/2 Trung Quốc.2/ Về cơ câu kinh tế. ơ thơi điem hiện tại, khi mà các nước công nghiệp phát triển đã chuyển sang giai đoạn khu vực dịch vụ chiếm phần lớn nhất trong cơ câu kinh tế quốc gia và đóng góp phần lớn nhất cho tăng trưởng GDP hàng năm, thì cơ câu kinh tế ngành của Việt Nam vẫn chủ yêu phản ánh tình trạng của một nền kinh tế kém phát triển.
Đối với các nước OECD, từ hàng nhiều thập kỷ qua, tỷ họng của khu vực dịch vụ đã lớn hơn cả hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp cộng lại. Nhiều nước đang phát triển xung quanh, khu vực nông nghiệp cũng đã giảm xuống chỉ còn chừng ưên dưới 10% tổng GDP.1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh t ế của một sôTnưởc (%) Nưởc Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ Việt Nam (2003) 21,8 40,0 38,2 Nhật Bản (1999) 1,0 32,1 66,4 Đài Loan (2000) 1,9 30,9 67,2 Hàn Quốc (2001) 4,0 41,4 54,1 Malaysia (2001) 8,0 49,6 41,9 Thái Lan (2001) 10,0 40,0 49,8 Philippine (2001) 15,0 31,2 53,6 Trung Quốc (2001) 15,0 52,2 32,9 Nguồn: + Việt Nam: Tổng cục Thống kê: Tinh hình kinh tế - xã hội năm 2003. Hà Nội 12/2003; tr. + Các nước khác: Tổng cục Thống kê: Sô liệu kinh tế —xã hội các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới.
NXB Thống kê, Hà Nội 12/2002; tr.2: Cơ cấu lao động theo ngành kinh t ế của một sô' nơởc (%) Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ Việt Nam (2001) 67,2 12,5 20,3 Nhật Bản (1950) 45,2 26,6 28,2 Đài Loan (1950) 56,0 20,8 23,3 Hàn Quốc (1950) 57,2 18,0 24,8 Nguồn: + Việt Nam: theo Niên giám thống kê 2002. NXB thống kê 2003; tr. + Các nước khác: theo Harry T. Oshima: Tăng trưởng kinh tế ở Châu Ả gió mùa.
UBKHXHVN-Viện Châu á và TBD. Hà nội 1989; Tập 1; tr. 7 Mức độ lạc hậu về cơ cấu kinh tế còn thể hiện rất rõ qua cơ cấu lao động khi so sánh với một số nước trong vùng có điểm xuất phát từ một nước nông nghiệp khi bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa. Nếu coi mức độ giảm bớt tỷ trọng lao động nông nghiệp như là một trong những chỉ số căn bản quan trọng phản ánh mức độ tiến triển của công nghiệp hóa, thì Việt Nam hiện tại còn thua kém các nước mới công nghiệp hóa Đông á ở thời điểm hơn 50 năm về trước.
Tình trạng cơ cấu này cho phép tiếp tục có sự chuyển dịch lớn về nguồn lao động từ khu vực nông nghiệp (và dịch vụ chất lượng thấp) sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Thế nhưng trên thực tế, việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn hiện vẫn diễn ra rất chậm, do không chỉ sức hút của khu vực hiện đại yếu, mà tình trạng thất nghiệp cao (trên 6% ở khu vực đô thị) và khu vực nông thôn mđi sử dụng 75% thời gian làm việc. Đây là một cản trở không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động.3/ Tình trạng đói nghèo. Trên cơ sở kinh tế tăng trưởng nhanh, mức độ nghèo đói của dân cư cũng giảm nhanh.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam đã giảm từ mức 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 (giảm bình quân 4,14%/năm), và giảm còn 28,9% năm 2002 (giảm bình quân 2,1%/năm). Tốc độ nghèo giảm như trên được thế giới xem là một ví dụ thành công đáng khâm phục của chính sách chống đói nghèo của quốc gia. Tuy vậy, với tỷ lệ nghèo đói là 28,9% năm 2002, Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có mức nghèo đói cao. Trong khi đó, tốc độ giảm nghèo của giai đoạn 1998-2002 đã giảm đi một nửa so với giai đoạn 1993-1998, cho thấy cuộc chống đói nghèo đã gặp phải những giới hạn, khiến cho mức độ bền vững của thành tích giảm đói nghèo chưa cao.2/ Về thể ch ế kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục con đường chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Sự chuyển đổi này được bắt đầu một cách toàn diện và dứt khoát về phương diện quan điểm kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) và đến nay đã trải qua gần 20 năm với kết quả tăng trưởng kinh tế được ghi nhận là vượt bậc so với bất cứ thời kỳ nào trong quá khứ và được xếp vào số ít những nước chuyển đổi đạt thành tích tăng trưởng cao. Thành tích tăng trưởng kinh tế cao đã khẳng định và củng cố xu hướng chuyển đổi cơ chế kinh tế là không thể đảo ngược. Hơn nữa, xu hướng này còn được thúc đẩy và củng c ố bởi các chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế với tư cách thành viên AFTA (một tổ chức kinh tế khu vực), bởi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ, Hiệp định kinh tế Việt Nam - EU., và nhất là thời hạn 2005 trở thành thành viên chính thức của WTO đã được xác định như một quyết tâm chính trị.
Tính chất thị trường của nền kinh tế do đó đã và đang được mở rộng. Khoảng cách giữa cơ chê kinh tế mới với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây ngày càng xa dần. Với sự hình thành và mở rộng cơ chế thị trường, việc phân bổ các nguồn lực vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, ngày càng dựa nhiều hơn vào các quyết định mang tính chất thị trường. Vai trò chỉ dẫn của giá cả (nhân tô" phản ánh mức độ khan hiếm các nguồn lực trên thị trường), quan hệ cung cầu, xu hướng biến động giá cã, dung lượng thị trường trong nước và quốc tế.
đang đóng vai trò ngày càng quyết định đốì với các quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực. Mức độ phụ thuộc gần như tuyệt đôi vào kế hoạch của nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực đã giảm bớt đáng kể, nhất là đối vđi các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tuy vậy, quá trình chuyển đổi vẫn còn đang tiếp tục vì cơ chế thị trường chưa được hoàn thiện. Tính chất đang chuyển đổi, chưa hoàn thiện của cơ chế thị trường hiện nay biểu hiện ở các khía cạnh cơ bản sau: 9 - Các loại thị trường được hình thành và phát triển chưa đồng bộ, trong đó một sô" loại thị trường vẫn còn đang ở trạng thái manh nha như thị trường lao động, thị trường công nghệ, một số hình thức của thị trường vốn như thị trường chứng khoán, việc giao dịch thị trường qua mạng Internet.
Những thị trường này chẳng những còn rất hạn chế về qui mô mà còn thấp kém về chất lượng. - Còn thiếu nhiều những qui định pháp lý để điều chỉnh các môi quan hệ trong hoạt động kinh doanh. Các vân đề thông lệ của kinh tế thị trường như chế độ hợp đồng, thanh khoản, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, thương hiệu. tất cả còn rất nhiều vân đề phải giải quyết và còn xa mới đạt đến mức trung bình của khu vực.
- Tình trạng độc quyền còn tồn tại trong một sô" lĩnh vực, trong đó có tình trạng độc quyền nhà nước đã biến thành độc quyền của DNNN. Ngoài một sô" lĩnh vực độc quyền mang tính tự nhiên, lẽ ra hầu hết các lĩnh vực cung câ"p hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tê" đều được tiến hành trong cơ chê" cạnh tranh thị trường. Song quá trình chuyển đổi từ độc quyền sang cạnh tranh thị trường ở một sô" lĩnh vực có xu hướng chậm hẳn lại. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình hình là còn tình trạng chồng chéo trong hệ thông quản lý nhà nước, đang cần được xem xét giải quyết.
- Hành trình hội nhập kinh tê" quốc tê" đang được đẩy nhanh, nhưng mới chỉ ở giai đoạn ban đầu, thậm chí vơi một sô" vân đề then chốt (như gia nhập WTO) lại chỉ vừa mới khởi động. Một sô" chiến lược hội nhập với các kê" hoạch hành động cụ thể vẫn còn chưa được hoạch định.3/ Về năng lực cạnh tranh. Sức quốc gia còn thấp và tốc độ cải thiện còn chậm. Kết quả xếp hạng hàng năm của một số nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, do D iễ n đ à n k in h t ế t h ế g iớ i tiến hành cho thây thứ bậc của Việt Nam tuy ít nhiều có được cải thiện qua thời gian, nhưng vẫn còn thấp xa so với nhiều nước trong vùng.3: x ế p h ạ n g n ă n g lự c c ạ n h tr a n h q u ố c g ia c ủ a m ộ t s ố nước.
Nưởc 2003 2002 2001 2000 1999 Singapre 6 4 4 2 1 Hàn Quốc 18 21 23 28 22 Malaysia 29 27 30 24 16 Thái Lan 32 31 33 30 30 Trung Quốc 44 33 47 41 32 Việt Nam 60 65 60 53 48 Tông sô nước 102 80 75 59 59 Nguồn: CIEM-UNDP: Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. NXB Giao thông vận tải, 2003; tr. Như vậy có thể nói công cuộc đổi mới mà Việt Nam đang tiến hành đã tạo ra những động lực to lớn cho sự tăng trưởng và trong thời kỳ gần 20 năm thực hiện đổi mới vừa qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao liên tục, hơn hẳn so với thời kỳ trước.