CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu An toàn và lành mạnh là mục tiêu mà các cơ quan quản lý hướng tới trong quá trình quản lý HTNH. Để đạt mục tiêu đó, các cơ quan quản lý đã đề ra rất nhiều các quy định đối với hoạt động của các NHTM. Trong đó, quy định về CAR tối thiểu được quan tâm hơn cả bởi đó là quy định về mức vốn dựa trên mức độ rủi ro trong hoạt động của NHTM.
CAR cho thấy khả năng hấp thụ tổn thất của các NHTM. Trên thực tế, có khá nhiều nghiên cứu về an toàn vốn của các NHTM và các nhân tố tác động tới an toàn vốn của các NHTM. Các nghiên cứu cho thấy an toàn vốn mà đại diện là CAR chịu tác động bởi các nhân tố vi mô như: quy mô tài sản, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời của ngân hàng… Ngoài ra, các nhân tố vĩ mô nền kinh tế cũng có ảnh hưởng đáng kể đến an toàn vốn của các NHTM. Các nghiên cứu nước ngoài Kleff & Weber (2003) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động tới CAR của các ngân hàng Đức giai đoạn 1992-2000, bằng mô hình ước lượng GMM cho thấy: Các nhân tố truyền thống quyết định cơ cấu vốn trong lý thuyết tài chính doanh nghiệp cũng có thể có liên quan đến các ngân hàng như: Lợi nhuận càng cao thì càng có nhiều cơ hội để tăng vốn bằng cách giữ lại lợi nhuận; quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ vốn càng thấp vì các ngân hàng này có thể tái cấp vốn trên thị trường vốn dễ dàng hơn; các ngân hàng lớn có thể có danh mục đầu tư đa dạng hơn và do đó có thể cần một bộ “đệm” vốn thấp hơn.
Kleff & Weber (2003) phân chia HTNH thành các nhóm ngân hàng gồm: ngân hàng tiết kiệm và ngân hàng cổ phần và ngân hàng khác để thấy được sự khác biệt đáng kể về hành vi của các nhóm ngân hàng. Cụ thể: Khả năng sinh lời là một yếu tố quyết định quan trọng tới CAR của ngân hàng tiết kiệm, vì vốn của các ngân hàng tiết kiệm chủ yếu dựa vào thu nhập được giữ lại. Đồng thời, rủi ro danh mục đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ thuận với CAR của các ngân hàng tiết kiệm vì các ngân hàng này có vốn điều lệ thấp hơn các ngân hàng khác và có xu hướng tăng vốn khi tăng rủi ro danh mục đầu tư. Ngược lại, lợi nhuận và rủi ro danh mục đầu tư có tác động nhưng không có ý nghĩa thống kê với CAR của ngân hàng khác.
Quy mô ngân hàng có tác động tiêu cực tới CAR của các ngân hàng khác nhưng không có ý nghĩa thống kê với ngân hàng tiết kiệm. Ngoài ra, áp lực pháp lý có tác động tích cực lên CAR của ngân hàng khác, nhưng không ảnh hưởng tới các ngân hàng tiết kiệm. 9 Thực tế cho thấy, các ngân hàng đều nắm giữ CAR trên mức quy định tối thiểu. Lý giải cho điều này, Wong et al.
(2005) cho rằng, các bộ “đệm” được xác định chủ yếu bởi các cân nhắc nội bộ của từng NHTM, phản ứng của các NHTM đối với kỷ luật thị trường và khung quy định. Chiến lược của ngân hàng về vốn liên quan đến chi phí điều chỉnh, sự ưa thích của thị trường về tăng trưởng vốn, sự cân bằng giữa nắm giữ vốn “đệm” và việc gửi các tín hiệu không mong muốn ra thị trường khi ngân hàng trả lại vốn cho các cổ đông, đã góp phần làm cho CAR của các NHTM ở mức cao hơn yêu cầu tối thiểu. Kết quả phân tích định tính trong nghiên cứu của Wong et al. (2005), cho thấy việc đánh giá mức độ rủi ro của các ngân hàng có liên quan đến các quyết định vốn và dường như các nhà quản lý ngân hàng đánh giá rủi ro khác với các cơ quan quản lý.
Chính vì vậy, các ngân hàng thường giữ CAR cao hơn mức quy định và các ngân hàng lớn thường có CAR thấp hơn so với các ngân hàng nhỏ. Tuy nhiên, kết quả phân tích định lượng của nghiên cứu lại cho thấy mức độ rủi ro ít tương quan với CAR. Điều này trái ngược với kết quả của các nghiên cứu khác như: Kleff & Weber (2003), Alfon et al. (2005), Asarkaya & Özcan (2007) Kết quả nghiên cứu định lượng của Wong et al.
(2005) cho thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng GDP có quan hệ tỷ lệ nghịch và có ý nghĩa thống kê với CAR. Đồng thời, CAR kỳ trước, CAR trung bình của các ngân hàng có cùng quy mô ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ vốn yêu cầu có mối quan hệ tỷ lệ thuận và có ý nghĩa thống kê với CAR. Tuy nhiên, tác động khủng hoảng tài chính Đông Nam Á – 1997, mức độ rủi ro của tài sản tới CAR lại không có ý nghĩa thống kê. Tương tự như nghiên cứu của Kleff & Weber (2003) và Wong et al.
(2005), nghiên cứu của Alfon et al. (2005) về các nhân tố ảnh hưởng tới CAR của các NHTM thành lập và hoạt động tại Anh giai đoạn 1997 – 2002 cũng cho thấy: quy mô ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng GDP có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR; yêu cầu vốn đối với từng ngân hàng có quan hệ tỷ lệ thuận với CAR. Ngoài ra, nghiên cứu của Alfon et al. (2005) còn cho thấy mức độ rủi ro của tài sản có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR, tác động của tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tới CAR không có ý nghĩa thống kê.
Theo tác giả, mặc dù, ngân hàng có “đệm” vốn đối với các yêu cầu vốn cá nhân nhưng những thay đổi về yêu cầu vốn riêng lẻ sẽ đi kèm với một số phản ứng về CAR. Các ngân hàng hoạt động gần với yêu cầu vốn nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi của các yêu cầu về vốn so với các ngân hàng có “đệm” vốn lớn. Ngân hàng có “đệm” vốn nhỏ thường là ngân hàng có quy mô lớn. 10 Vấn đề nội sinh của các biến độc lập (mức độ rủi ro của tài sản, tỷ trọng tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, rủi ro hoạt động kinh doanh) được giải quyết thông qua việc sử dụng phương pháp ước lượng GMM.
Asarkaya & Özcan (2007) nghiên cứu về các nhân tố quyết định CAR của các NHTM, phân tích thực nghiệm đối với các NHTM Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2002-2006 bằng phương pháp ước lượng GMM. Tác giả cũng có kết luận tương tự như nghiên cứu của Alfon et al. (2005): các ngân hàng giữ vốn vượt quá quy định, mức độ rủi ro của tài sản, quy mô ngân hàng, tỷ trọng tiền gửi có tương quan nghịch với CAR. Một điểm khác biệt trong nghiên cứu của Asarkaya & Özcan (2007) so với nghiên cứu của Alfon et al.
(2005) là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có mối quan hệ tỷ lệ thuận và có ý nghĩa thống kê với CAR. Theo tác giả, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu không chỉ được xem xét là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu như nghiên cứu của Alfon et al. (2005) mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng, do đó khi lợi nhuận tăng sẽ tác động làm tăng vốn ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Asarkaya & Özcan (2007) còn cho thấy: CAR kỳ trước, CAR trung bình của ngành và tỷ lệ tăng trưởng GDP có mối quan hệ tỷ lệ thuận với CAR của ngân hàng.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của Asarkaya & Özcan (2007), Büyükşalvarci & Abdioğlu (2011) tiếp tục nghiên cứu về các nhân tố quyết định CAR của các Ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ ở giai đoạn tiếp theo 2006-2010. Nghiên cứu chỉ ra rằng: Tỷ trọng cho vay trong tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ đòn bẩy có ảnh hưởng tiêu cực đến CAR. Bên cạnh đó, dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ suất sinh lời trên tài sản ảnh hưởng tích cực đến CAR. Tuy nhiên, quy mô ngân hàng, tiền gửi, khả năng thanh khoản và thu nhập lãi biên dường như không có bất kỳ ảnh hưởng đáng kể nào đối với CAR.
Kết quả nghiên cứu của Büyükşalvarci & Abdioğlu (2011) có sự khác biệt với nghiên cứu của Asarkaya & Özcan (2007) về tác động của các nhân tố: quy mô ngân hàng, tỷ trọng tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tới CAR. Sự khác biệt này có thể do giai đoạn nghiên cứu của Büyükşalvarci & Abdioğlu (2011) và Asarkaya & Özcan (2007), các yêu cầu về vốn thay đổi làm thay đổi mức vốn mà ngân hàng muốn nắm giữ (Asarkaya & Özcan, 2007). Bên cạnh các quy định về CAR tối thiểu, hiệp ước vốn Basel II còn đưa ra các quy định về giám sát ngân hàng, công khai và minh bạch thông tin. Đảm bảo minh bạch trong công bố thông tin sẽ giúp cho các bên liên quan có được các thông tin đầy 11 đủ, chính xác, kịp thời.
Thông tin minh bạch là nhân tố quan trọng giúp quá trình giám sát ngân hàng đạt hiệu quả và tạo kỷ luật thị trường. Chính vì vậy, mức độ minh bạch thông tin sẽ tác động tới CAR của các NHTM. Điều này được chứng minh trong nghiên cứu của Dhouibi, R. Kết quả nghiên cứu của Dhouibi, R.
(2016) cho thấy, minh bạch thông tin ngân hàng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với CAR. Đồng thời, CAR kỳ trước và sở hữu nước ngoài cũng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với CAR. Trong khi đó, tỷ lệ chia cổ tức, hiệu quả quản lý, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng và áp lực quy định có quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR của các NHTM Tunisia, giai đoạn 2000 - 2014. Tuy nhiên, tác động của các nhân tố như: Tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tới CAR là không có ý nghĩa thống kê.
Điều này là khác biệt với các nghiên cứu của Kleff & Weber (2003); Wong et al. (2005); Alfon et al. Tương tự nghiên cứu của Wong et al. (2016) cũng cho thấy tác động của mức độ rủi ro của tài sản tới CAR không có ý nghĩa thống kê.
Dreca (2014), phân tích các nhân tố tác động tới CAR của các NHTM Bosia, giai đoạn 2005-2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô ngân hàng, tỷ trọng tiền gửi, cho vay và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR.