CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU 1. Tổng quan về nợ xấu 1. Khái niệm nợ xấu Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, nợ xấu “Non-performing loan” (NPL) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể bị quá hạn và bị nghi ngờ vì khả năng trả nợ của khách hàng. Một số quan điểm về nợ xấu: Theo quỹ tiền tệ (IMF): Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hoá, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thoả thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiện rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xoá nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế (IMF‘s Complilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực kế toán về Ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL). Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 đầu tháng 12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ bản IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp này để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc xếp hạng khoản vay. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. 7 Theo uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS): Trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc các khoản nợ được cho là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai sự kiện sau đây xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel committee on banking Supervision, 2002).
BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của Ngân hàng. Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được. Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu xuất hiện từ khi quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam.
Gần đây nhất, thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN thì nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; (ii) khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Trong bài nghiên cứu, tác giả tính toán tỷ lệ nợ xấu là những khoản nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dự nợ NHTM. Phân loại nợ xấu Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương đồng của khoản vay.
Việc phân loại nợ xấu giúp cho ngân hàng có thể đánh giá, kiểm soát được chất lượng cho vay và có biện pháp xử lý khi xảy ra vấn đề trong các khoản vay. Hiện nay có ba quan điểm chính về phân loại nợ: Quan điểm thứ nhất: IMF và WB đưa ra một số đặc điểm để sắp xếp các khoản tín dụng và từng nhóm với chất lượng tín dụng khác nhau như sau: Bảng 1. 1: Phân loại nợ theo IMF Nhóm nợ Những đặc thù Đạt tiêu chuẩn Không nghi ngờ về khả năng trả nợ; TSĐB hoàn toàn bằng tiền hoặc tương đương tiên; Quá hạn dưới 90 ngày. Cần theo dõi Các điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ; Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn; Quá hạn dưới 90 ngày.
Dưới chuẩn Các yếu điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ; Các khoản nợ đã được thỏa thuận lại; Quá hạn từ 90 – 180 ngày. Nghi ngờ Không chắc chắn thu được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại; Có khả năng thất thoát; Quá hạn từ 180 -360 ngày. Mất vốn Các khoản vay không thu hồi được; Luôn có khả năng thu hồi được một phần; Quá hạn trên 360 ngày. Nguồn: The Bank Credit Analysis Handbook Quan điểm thứ hai: Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39, các khoản cấp tín dụng được phân vào 5 nhóm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn); Nhóm 2 (Nợ cần chú ý); Nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn); Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ); Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).
Nợ xấu là các khoản nợ bị phân từ nhóm 3 trở xuống, cụ thể: 9 - Nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn): Việc trả nợ đầy đủ và đúng hạn bị nghi ngờ do thiếu các điều kiện bảo đảm; nợ gốc và lãi đã quá hạn trên 90 ngày. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Bao gồm các đặc thù của nhóm 3; việc thu hồi hoặc thanh toán toàn bộ khoản vay trở nên rất nghi ngờ và không chắc chắn; nợ gốc và lãi đã chậm quá 180 ngày. - Nhóm 5: (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ bị đánh giá là không có khả năng thu hồi; nợ gốc và lãi đã quá hạn một năm. Quan điểm thứ ba: Theo phương pháp của BIS, nợ xấu được phân thành 5 nhóm và nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay rơi vào 3 nhóm cuối, cụ thể: Bảng 1.
2: Phân loại nợ theo BIS Nhóm nợ Những đặc thù Không vấn đề Các khoản vay sẽ thu hồi được Chú ý đặc biệt Các khoản cho vay các doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi thu hồi nợ. Dưới chuẩn Các khoản cho vay mà tiền trả lãi và gốc đã quá hạn trên 3 tháng. Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 10% trên phần vốn cho vay không được bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn. Nghi ngờ Khả năng thanh toán toàn bộ khoản cho vay tỏ ra đáng nghi ngờ, cho thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thì chưa rõ.
Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay này. Mất vốn thật sự Các khoản cho vay này được cho là không có khả năng thu hồi. và không có khả Các ngân hàng trích lập dự phòng 100% cho khoản vay này. năng thu hồi Nguồn: BIS Như vậy, việc phân loại nợ có sự tương đồng giữa các quan điểm nhưng khi áp dụng vào thực tế lại tạo ra những trở ngại nhất định.
Hiện nay vẫn chưa có sự 10 thông nhất mang tính quốc tế về phân loại nợ và trích lập dự phòng. Quá trình phân loại và trích lập dự phòng phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá, quyết định của ngân hàng, cơ quan giám sát. Do đó, hệ quả tất yếu là kết quả phân loại và trích lập dự phòng là khác nhau giữa các chủ thể là các ngân hàng, kiểm toán độc lập, cơ quan giám sát và giữa các quốc gia. Tóm lại, có nhiều quan điểm và phương pháp tính toán nợ xấu khác nhau, điều này dẫn đến con số nợ xấu của các ngân hàng là khác nhau tuỳ thuộc vào sự đánh giá của cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 1. Nguyên nhân khách quan Biến động của môi trường tự nhiên: Những thay đổi lớn trong môi trường tự nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của người đi vay, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp, một trong những lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Việt Nam. Khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh làm cho các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, dẫn đến sự gia tăng nợ xấu. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: Ngân hàng là trung gian tài chính, cũng là ngành nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự phát triển của nền kinh tế, tình hình chính trị trong nước,… Khi tình hình kinh tế không ổn định, bất ổn xã hội hay những tác động khủng hoảng kinh tế thế giới đều tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp suy giảm, ảnh hưởng đặc biệt đến lĩnh vực tín dụng của ngân hàng, nợ xấu tăng cao.
Nguyên nhân chủ quan Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng: Hệ thống văn bản quản lý chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện đã cản trở nhiều hoạt động, gây ra rủi ro tiềm ẩn cho ngành ngân hàng.