Luận án tiến sĩ: Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam - Học viện Ngân hàng

Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng là công cụ thiết yếu trong giám sát ngân hàng Việt Nam. Phân tích các phương pháp đánh giá, quản lý rủi ro và đảm bảo ổn

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2021

237
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng

Kiểm tra sức chịu đựng (KTSCĐ) rủi ro tín dụng là công cụ quan trọng trong hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại. Phương pháp này đánh giá tác động của các kịch bản kinh tế bất lợi lên chất lượng danh mục tín dụng và mức độ đủ vốn của tổ chức tín dụng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang (2021) tại Học viện Ngân hàng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về KTSCĐ rủi ro tín dụng trong bối cảnh giám sát ngân hàng Việt Nam. KTSCĐ rủi ro tín dụng thuộc nhóm đánh giá về vốn (solvency stress test). Mục tiêu chính là đo lường tác động tới tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng khi xảy ra cú sốc tín dụng.Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) khuyến nghị các cơ quan giám sát sử dụng KTSCĐ như một phần của giám sát vĩ mô. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã bước đầu áp dụng phương pháp này trong hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về KTSCĐ rủi ro tín dụng vẫn còn hạn chế. Luận án đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu đáng kể trong lĩnh vực này, đặt nền tảng cho việc xây dựng khung KTSCĐ phù hợp với đặc thù hệ thống ngân hàng Việt Nam.

1.1. Khái niệm và bản chất của kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng

Kiểm tra sức chịu đựng trong giám sát ngân hàng là quy trình đánh giá định kỳ nhằm xác định mức độ tổn thương của ngân hàng trước các kịch bản kinh tế bất lợi. Theo IMF (2012) và BCBS (2015), KTSCĐ được phân thành hai loại chính: KTSCĐ về vốn (solvency) và KTSCĐ về thanh khoản (liquidity). KTSCĐ về vốn đo lường tác động tới tỷ lệ an toàn vốn CAR, tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ đòn bẩy. KTSCĐ về thanh khoản đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Phần lớn cơ quan giám sát trên thế giới ưu tiên thực hiện KTSCĐ về vốn. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước tiếp cận và áp dụng phương pháp này vào hệ thống giám sát vĩ mô.

1.2. Vai trò của kiểm tra sức chịu đựng trong giám sát ngân hàng

Vai trò của KTSCĐ trong giám sát ngân hàng ngày càng được khẳng định qua các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Công cụ này giúp cơ quan giám sát phát hiện sớm các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống ngân hàng. KTSCĐ cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá sức khỏe tài chính của từng tổ chức tín dụng cũng như toàn bộ hệ thống. Qua kết quả KTSCĐ, cơ quan giám sát có thể yêu cầu ngân hàng tăng cường trích lập dự phòng, bổ sung vốn hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh. KTSCĐ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách tiền tệ và ổn định tài chính. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Dương Quốc Anh và cộng sự (2012) đã thử nghiệm KTSCĐ rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại, tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

II. Phân tích thực trạng kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tại Việt Nam

Thực trạng kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng tại Việt Nam còn nhiều hạn chế so với thông lệ quốc tế. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang (2021) đã chỉ ra rằng chưa có nghiên cứu riêng tách biệt nào về KTSCĐ rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam. Các nghiên cứu hiện tại chỉ đề cập đến KTSCĐ rủi ro tín dụng như một phần của giám sát thanh tra trên cơ sở rủi ro. Dương Quốc Anh và cộng sự (2012) đã thực hiện thử nghiệm KTSCĐ rủi ro tín dụng bằng phương pháp phân tích độ nhạy. Nghiên cứu tạo các cú sốc nợ xấu tăng thêm 15%, 30% và 50%, giả định tỷ lệ trích lập dự phòng tăng 50%. Kết quả cho thấy ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp thì CAR suy giảm ít, ngược lại ngân hàng nợ xấu cao bị tác động mạnh. Tuy nhiên, phương pháp này áp dụng cú sốc trực tiếp vào tỷ lệ nợ xấu mà không thông qua các thông số vĩ mô. Điều này hạn chế khả năng đánh giá tác động lan truyền từ nền kinh tế đến hệ thống ngân hàng.

2.1. Thực tế áp dụng và các vấn đề bất cập

Thực tế áp dụng KTSCĐ rủi ro tín dụng tại Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề đáng quan ngại. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với nợ xấu là vấn đề trọng tâm. Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng đã thực hiện các đánh giá rủi ro tín dụng nhưng chưa có khung KTSCĐ chuẩn hóa. Dữ liệu sử dụng chủ yếu từ nguồn nội bộ của cơ quan giám sát, chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Phương pháp đánh giá còn thiên về phân tích tĩnh, chưa kết hợp tốt giữa mô hình thống kê và đánh giá định tính. Các ngân hàng thương mại cũng chưa chủ động xây dựng hệ thống KTSCĐ nội bộ theo chuẩn quốc tế. Sự thiếu hụt về nhân lực có chuyên môn sâu về mô hình hóa rủi ro cũng là rào cản lớn.

2.2. Các thách thức và hạn chế trong triển khai

Một số thách thức chính khi triển khai KTSCĐ rủi ro tín dụng tại Việt Nam cần được nhận diện rõ ràng. Thứ nhất, dữ liệu lịch sử về nợ xấu và chất lượng tín dụng chưa đủ dài để xây dựng mô hình dự báo đáng tin cậy. Thứ hai, mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô GDP, lạm phát, lãi suất với chất lượng danh mục tín dụng chưa được lượng hóa một cách khoa học. Thứ ba, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong việc chia sẻ dữ liệu và thông tin còn nhiều bất cập. Thứ tư, khung pháp lý quy định về KTSCĐ tại Việt Nam còn sơ khai, chưa có hướng dẫn chi tiết về phương pháp, tần suất và cách thức công bố kết quả.

III. Giải pháp nâng cao kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng

Để nâng cao hiệu quả kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng khung KTSCĐ chuẩn hóa với kịch bản kinh tế vĩ mô phù hợp đặc thù nền kinh tế Việt Nam. Các kịch bản nên bao gồm tình huống cơ sở, tình huống xấu và tình huống cực đoan, được xây dựng dựa trên phân tích chuỗi thời gian và tham vấn chuyên gia. Thứ hai, cần phát triển mô hình macro-econometric để lượng hóa mối liên hệ giữa biến số kinh tế vĩ mô và chất lượng tín dụng. Mô hình Vector Autoregression (VAR) hoặc mô hình ngẫu nhiên có cấu trúc là các lựa chọn khả thi. Thứ ba, yêu cầu các tổ chức tín dụng xây dựng hệ thống KTSCĐ nội bộ và báo cáo định kỳ cho cơ quan giám sát. Thứ tư, tăng cường năng lực phân tích dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đánh giá rủi ro. Thứ năm, đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về mô hình hóa rủi ro và KTSCĐ.

3.1. Xây dựng kịch bản kinh tế vĩ mô phù hợp

Xây dựng kịch bản kinh tế vĩ mô là bước quan trọng nhất trong khung KTSCĐ rủi ro tín dụng. Kịch bản cần phản ánh đúng đặc thù của nền kinh tế Việt Nam với độ mở thương mại lớn và phụ thuộc vào dòng vốn FDI. Các biến số đầu vào bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ giá hối đoái, lãi suất thị trường, tỷ lệ thất nghiệp và giá bất động sản. Kịch án cơ sở dựa trên dự báo chính thức của các tổ chức uy tín. Kịch bản xấu mô phỏng suy thoái kinh tế với GDP giảm 2-3%. Kịch bản cực đoan mô phỏng khủng hoảng tài chính tương tự giai đoạn 2008-2009.Ủy ban Basel khuyến nghị sử dụng ít nhất ba kịch bản với mức độ nghiêm trọng tăng dần.

3.2. Đo lường và đánh giá tác động đến vốn ngân hàng

Đo lường tác động của các kịch bản tới rủi ro tín dụng đòi hỏi phương pháp luận chặt chẽ. Bước đầu tiên là xây dựng ma trận chuyển đổi tín dụng (credit migration matrix) cho từng phân khúc khách hàng. Tiếp theo, áp dụng mô hình logistic regression hoặc mô hình Merton để ước lượng xác suất vỡ nợ (PD) trong từng kịch bản. Tác động được đo lường qua thay đổi tỷ lệ nợ xấu, mức trích lập dự phòng cần thiết và hệ số an toàn vốn CAR. Kết quả KTSCĐ cần được đánh giá so với ngưỡng quy định của Basel III, bao gồm CAR tối thiểu 8% và vốn cấp 1 tối thiểu 6%. Ngân hàng nào không đạt ngưỡng sẽ bị yêu cầu tăng cường bộ đệm vốn.

IV. Kết luận và ứng dụng kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng

Luận án của Nguyễn Thị Thu Trang (2021) đã đóng góp quan trọng vào việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả KTSCĐ. Kết quả nghiên cứu cho thấy KTSCĐ rủi ro tín dụng là công cụ không thể thiếu trong hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại. Đối với Việt Nam, việc áp dụng KTSCĐ rủi ro tín dụng mang ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu cung cấp khung lý thuyết toàn diện về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng, giám sát ngân hàng và ổn định tài chính. Về mặt thực tiễn, các khuyến nghị chính sách từ nghiên cứu có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Ứng dụng kết quả KTSCĐ giúp cơ quan giám sát đưa ra quyết định kịp thời, yêu cầu ngân hàng tăng cường dự phòng hoặc tái cơ cấu danh mục tín dụng. Từ đó nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc kinh tế bất lợi.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu nằm ở việc xây dựng khung lý thuyết đầy đủ về KTSCĐ rủi ro tín dụng trong bối cảnh Việt Nam. Luận án đã tổng hợp và phân tích các lý thuyết về rủi ro tín dụng, giám sát ngân hàng và quản lý rủi ro từ các nguồn học thuật uy tín quốc tế. Nghiên cứu cũng đã đối sánh thông lệ quốc tế của các nước phát triển như Mỹ, Anh, EU với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho Ngân hàng Nhà nước trong việc ban hành quy định về KTSCĐ. Các ngân hàng thương mại có thể tham khảo để xây dựng hệ thống KTSCĐ nội bộ. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận mới cho các nghiên cứu về giám sát ngân hàng tại Việt Nam.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Định hướng phát triển KTSCĐ rủi ro tín dụng tại Việt Nam cần theo đuổi nhiều mục tiêu song song. Trước mắt, Ngân hàng Nhà nước cần ban hành khung pháp lý chi tiết về KTSCĐ, bao gồm tần suất thực hiện, phương pháp luận và cách thức công bố kết quả. Trung hạn, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tín dụng phục vụ mô hình hóa KTSCĐ. Dài hạn, hướng tới áp dụng các kỹ thuật tiên tiến như học máy (machine learning) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích rủi ro tín dụng. Việc tham gia vào các chương trình đánh giá của IMF như FSAP cũng giúp Việt Nam tiếp cận thông lệ tốt nhất. Cuối cùng, đào tạo đội ngũ chuyên gia KTSCĐ tại các cơ quan giám sát và ngân hàng thương mại là ưu tiên hàng đầu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế bởi vị thế trung gian trong việc trung chuyển vốn. Chính vì thế, sự lành mạnh của các định chế tài chính này luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan chức năng cũng nhƣ các bên liên quan khác. Ngân hàng Trung Ƣơng (NHTW) với hai nhiệm vụ chính là điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính cần có những biện pháp giám sát cẩn trọng về rủi ro nhằm cảnh báo sớm, đo lƣờng tác động cũng nhƣ có những khuyến nghị chính sách để xử lý nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực, đảm bảo tính ổn định và bền vững cho nền kinh tế.

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, một trong những vấn đề nổi lên đó là năng lực giám sát các ngân hàng và các tổ chức tài chính bởi sự phát triển lớn mạnh, đa dạng và phức tạp của các tổ chức này. Do đó, thách thức đối với các NHTW và cơ quan giám sát (CQGS) là cần phải đảm bảo sự tƣơng đồng giữa mục tiêu chính sách tiền tệ và mục tiêu giám sát an toàn, quan tâm hơn tới mục tiêu ổn định tài chính và an toàn vĩ mô, tập trung vào những rủi ro và các tổ chức có tầm quan trọng trong hệ thống (Bernanke, 2013). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS (2006) trong Basel II đã tích hợp trong trụ cột 1 phƣơng pháp kiểm tra sức chịu đựng (KTSCĐ- Stress test) để ƣớc lƣợng các khoản nợ xấu, dự phòng cũng nhƣ mức độ đủ vốn của các ngân hàng trƣớc các sự kiện bất lợi, đồng thời KTSCĐ cũng là một nội dung của trụ cột 2 về giám sát ngân hàng. Chƣơng trình ổn định tài chính (Financial Sector Assessment Programs- FSAP) đƣợc thực hiện bởi IMF và WB tại các nƣớc phát triển và đang phát triển cũng sử dụng KTSCĐ là một phƣơng pháp để đánh giá khả năng chống đỡ của khu vực tài chính trƣớc các cú sốc và áp dụng cho các rủi ro khác nhau, trong đó có rủi ro tín dụng.

Dựa trên những quy định của Basel, phƣơng pháp KTSCĐ đƣợc NHTW nhiều nƣớc áp dụng nhằm hỗ trợ cho công tác giám sát, điển hình nhƣ NHTW tại Anh (Bank of England-BoE), NHTW Nhật Bản (Bank of Japan- BoJ), NHTW Tây Ban Nha (Bank of Spanin- BoS), Hà Lan (De Nederlandsche Bank-DNB) và NHTW Châu Âu (European Central Bank-ECB),… 2 Trong các cuộc KTSCĐ đƣợc thực hiện bởi NHTW thì đều có cấu phần liên quan đến KTSCĐ rủi ro tín dụng. Borio và cộng sự, (2012) cũng cho rằng KTSCĐ vĩ mô cần tập trung trƣớc hết vào rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng. Nhƣ vậy có thể khẳng định KTSCĐ ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu và đắc lực để NHTW và CQGS đánh giá và giám sát các ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng nói riêng. Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam liên tục tăng trƣởng cả về số lƣợng, quy mô, mạng lƣới và phƣơng thức vận hành.

Tính đến cuối năm 2019, hệ thống các NHTM Việt Nam có 7 NHTM Nhà nƣớc, 28 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh, 9 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài và 49 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, tổng tài sản hệ thống NHTM chiếm tới 97,17% tổng tài sản hệ thống TCTD Việt Nam (NHNN, 2019). Trong đó rủi ro tín dụng vẫn là rủi ro trọng yếu nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng Việt Nam. NHNN bắt đầu nghiên cứu và triển khai KTSCĐ từ năm 2013, tuy nhiên nội dung thực hiện vẫn còn ở những bƣớc đầu và còn nhiều nội dung cần hiệu chỉnh. Trong chiến lƣợc phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 và định hƣớng đến năm 2030 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 986/QĐ- TTg ngày 08/8/2018, một trong những nội dung quan trọng là cần tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Hoạt động giám sát ngân hàng tại Việt Nam, vì vậy cũng cần hƣớng tới việc đổi mới phƣơng pháp giám sát, triển khai các công cụ giám sát hiện đại, trong đó có KTSCĐ nhằm chuyển đổi từ giám sát tuân thủ sang giám sát rủi ro, kết hợp giám sát an toàn vi mô và giám sát an toàn vĩ mô. Bên cạnh đó, tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về KTSCĐ nói chung và KTSCĐ rủi ro tín dụng nói riêng trên phƣơng diện cơ quan giám sát tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều khoảng trống. Xuất phát từ các vấn đề lý luận, thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu nhƣ trên, việc nghiên cứu về “Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam” là cần thiết, nhất là trong công tác quản lý nhà nƣớc trong 3 lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là công tác thanh tra, giám sát ngân hàng. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.

Tổng quan nghiên cứu quốc tế Phƣơng pháp KTSCĐ và KTSCĐ RRTD đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của cả các nhà học thuật, các nhà nghiên cứu và những ngƣời làm thực tế trong. KTSCĐ trở thành công cụ hữu hiệu trong việc đánh giá sự ổn định, khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trƣớc những cú sốc bất lợi của nền kinh tế. Tổng quan nghiên cứu đƣợc chia thành ba cấu phần: về kiểm tra sức chịu đựng, về kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng và kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng. Cụ thể:  Về kiểm tra sức chịu đựng Thuật ngữ kiểm tra sức chịu đựng, tiếng anh là Stress test bắt nguồn từ ngành kỹ thuât (Demkas, 2015), trong đó KTSCĐ đƣợc hiểu là phân tích thử nghiệm một hệ thống hay cấu trúc trong hoàn cảnh nào thì vƣợt quá khả năng hoạt động bình thƣờng dẫn đến không hoạt động, từ đó xác nhận thông số kỹ thuật cần đƣợc đảm bảo của hệ thống hay cấu trúc đó.

Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính-ngân hàng, một trong những ứng dụng đầu tiên của phƣơng thức này đƣợc thực hiện vào đầu những năm 1990 tại J.Morgan khi tích hợp vào phƣơng pháp ma trận rủi ro (RiskMetrics) để đo lƣờng rủi ro thị trƣờng (Zangari 1996). Berkowitz (1999) cung cấp cách tiếp cận lý thuyết KTSCĐ áp dụng cho lĩnh vực tài chính nhƣ là một thay thế cho phƣơng pháp tiếp cận VaR khi mà phƣơng pháp này không xét đến tác nhân làm thay đổi rủi ro hiện tại. Berkowitz (1999) đã gợi ý một cách ƣớc tính rủi ro danh mục tiềm ẩn hình của các ngân hàng bằng cách kết hợp các biến động lịch sử của các hành vi kinh tế vĩ mô vào mô hình Hilbers và cộng sự (2004) trong một nghiên cứu khác của IMF nhấn mạnh sự khác biệt trong việc đánh giá sức chịu đựng ở mức hệ thống (vĩ mô) và vi mô. Các tác giả cũng tổng quan lại phƣơng pháp đánh giá sức chịu đựng, từ xác định các tổn thất tới xây dựng các tình huống và phát biểu kết quả.

Trong khi đó Ủy ban Basel về giám 4 sát ngân hàng (BCBS, 2009) đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng KTSCĐ trong việc xác định mức vốn cần thiết để hấp thụ các tổn thất khi các cú sốc xảy ra. Alfaro và Drehmann (2009) khi đánh giá mức hiệu quả của các phƣơng pháp KTSCĐ trong giai đoạn khủng hoảng. Các tác giả nhấn mạnh các giả định trong mô hình không tƣơng ứng với những gì đã thực sự xảy ra trong khủng hoảng. Hơn thế, Alfaro và Drehmann (2009) còn nhận thấy rằng đa phần các tình huống trong mô hình thƣờng dựa trên dữ liệu lịch sử về điều kiện vĩ mô khả quan hơn thực tế.

Trong khi đó Schuermann (2014) chỉ ra hạn chế của các quy định an toàn vốn trong cuộc khủng hoảng vừa qua và nhấn mạnh vai trò của KTSCĐ nhƣ là công cụ mới, hữu hiệu đánh giá rủi ro chính xác. Sau đó, phƣơng pháp KTSCĐ này đƣợc áp dụng rộng rãi tại các tổ chức tài chính, NHTW, CQGS. Cơ quan giám sát tài chính đã nhận ra lợi ích của việc kiểm tra sức chịu đựng của toàn bộ danh mục hoặc toàn bộ bảng cân đối từ các tình huống mô phỏng lƣợng hóa các giả thuyết về "cú sốc" cho các biến đƣợc lựa chọn và đánh giá tác động lên lợi nhuận, vốn, hay khả năng của các tổ chức quy định để tiếp tục đáp ứng các nghĩa vụ của họ, bao gồm cả các yêu cầu từ các cơ quan giám sát (Hirtle và cộng sự, 2014). Năm 2018, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ mới thay thế cho bộ nguyên tắc về KTSCĐ đƣợc ban hành năm 2009 (BCBS, 2018).

Adrian (2020) gần đây nhất đã phân tích các nội dung và thách thức khi thực hiện KTSCĐ trong các chƣơng trình FSAP tại các quốc gia thành viên của IMF. Phân chia theo rủi ro, KTSCĐ có thể đƣợc thực hiện theo cách thƣc tiếp cận từng phần hay từng rủi ro, trong đó xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các cú sốc tới các biến tài chính riêng biệt. Rủi ro thị trƣờng là rủi ro đầu tiên ứng dụng KTSCĐ nhƣ trong nghiên cứu của (Zangari 1996). Sau đó mới đến các rủi ro khác nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng nhƣ nghiên cứu của Pesaran và cộng sự (2004) và Alves (2004).

Phƣơng pháp thứ hai là phƣơng pháp tích hợp để đánh giá chung sự ổn định của cả hệ thống. Adrian và Shin (2008), Sorge (2004) và Jandacka và cộng sự (2005) đã sử dụng cách thức tiếp cận này vì nó có thể đƣa 5 ra đƣợc phân phối thua lỗ trong bất kì tình huống cần kiểm tra nào. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu sẽ áp dụng cho một loại rủi ro hay nhiều rủi ro.  Về Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng KTSCĐ rủi ro tín dụng phổ biến nhất so với thực hiện KTSCĐ các rủi ro khác.

Thuật ngữ KTSCĐ rủi ro tín dụng ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là tập hợp các kỹ thuật và phƣơng pháp đƣợc sử dụng để đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại trƣớc những sự kiện hoặc kịch bản bất lợi. Khung thực hiện KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM bao gồm quy trình các bƣớc và các nội dung đƣợc thực hiện theo trình tự xác định Cihak (2007). Theo đó, KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM gồm 3 bƣớc chính để thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ