chương 1 : Trong chương này, luận văn đã nêu khái quát lý luận về năng lực tài chính của doanh nghiệp và những căn cứ đánh giá năng lực tài chính, khái niệm cạnh tranh và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời luận văn cũng đã nêu được mối quan hệ giữa năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Mô hình cạnh tranh Ngành thép Trung Quốc và những bài học kinh nghiệm cho phát triển cạnh tranh Ngành thép Việt nam. Trên cơ sở đó chúng ta nắm được những vấn đề lý luận mang tính nguyên tắc để từ đó đưa ra các biện pháp gia tăng năng lực tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tổng công ty thép Việt Nam trong tương lai.
- 12 – Nâng cao năng lực tài chính nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam _______________________________________________________________________________ CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM (VSC) 2.1 Tổng quan ngành thép Việt Nam hiện nay 2.1 Quá trình hình thành và phát triển ngành thép Việt Nam Ngành thép Việt Nam được hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20 với sự ra đời của Công ty gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp ta xây dựng. Đây là một khu liên hợp luyện kim khép kín theo sơ đồ công nghệ lò cao truyền thống. Công trình được khởi công xây dựng từ năm 1959, đến tháng 11/1963 mẻ gang đầu tiên ra lò; song do chiến tranh nên 12 năm sau mới có sản phẩm thép cán do nhà máy luyện cán thép Gia Sàng (công suất thiết kế 50.000 tấn/năm) sản xuất. Tiếp đó năm 1978 nhà máy cán thép Lưu Xá (100.000 tấn/năm) đi vào hoạt động.
Năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, Công ty luyện kim đen Miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản và sáp nhập các nhà máy luyện cán thép cỡ nhỏ theo công nghệ lò điện hồ quang của chế độ cũ để lại tại Thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa, với tổng công suất khoảng 80. Sản phẩm chủ yếu cũng chỉ là thép xây dựng thông thường và một lượng nhỏ là đinh thép, lưới thép, dây thép gai. Giai đoạn 1976-1985 là giai đoạn ngành Thép gặp rất nhiều khó khăn do suy thoáí kinh tế. Mặt khác, nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô và các nước XHCN còn dồi dào nên ngành Thép không có cơ hội phát triển.
Những năm này sản lượng thép cán toàn ngành chỉ ở mức 40. Ngành thép chỉ thực sự bắt đầu khởi sắc từ những năm 90 trở đi, khi công cuộc đổi mới đất nước được triển khai mạnh mẽ. Việc đầu tư vào ngành Thép đặc biệt sôi động trong giai đoạn 1995 đến nay. Hàng loạt dự án đầu tư chiều sâu và đầu tư mới của các DNNN ngành Thép, dự án có vốn đầu tư nước ngoài, dự án thép của các ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng và của tư nhân lần lượt ra đời.
Đến năm 2007, sản lượng thép xây dựng các loại đạt khoảng hơn 4,2 triệu tấn. Có thể thấy là sau gần 50 năm xây dựng và phát triển, ngành Thép đã trở thành một ngành công nghiệp quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước.2 Cơ cấu ngành công nghiệp thép Việt Nam Xét về cơ cấu, ngành công nghiệp thép Việt Nam có thể chia ra làm 3 khối chính như sau : (i) Tổng Công ty Thép Việt Nam cùng các đơn vị thành viên của mình và một số các DNNN khác; (ii) các liên doanh nước ngoài; và (iii) các nhà sản xuất thép do tư nhân trong nước và 100% vốn nước ngoài đầu tư. Tổng công ty thép Việt Nam và một số các DNNN khác : Tổng Công ty Thép Việt Nam được thành lập năm 1990 trên cơ sở sát nhập hai nhà sản xuất thép lớn nhất của Việt Nam, Công ty Gang thép Thái Nguyên ở phía Bắc và Công ty thép Miền Nam ở phía Nam. - 13 – Nâng cao năng lực tài chính nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam _______________________________________________________________________________ Năm 1995 Tổng Công ty Thép Việt Nam được tái thành lập và cơ cấu lại trên cơ sát nhập hai Tổng Công ty nhà nước, Tổng Công ty Thép Việt Nam và Tổng Công ty Kim khí theo Quyết định số 255/TTg ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ đã có Nghị định số 03/CP ngày 25/1/1996 phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Thép Việt Nam. Ngày 23/11/2006 Thủ Tướng chính phủ đã có quyết định số 267/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam. Theo đó kể từ ngày 01/07/2007 Tổng công ty Thép Việt Nam đã họat động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty gồm 10 đơn vị hạch tóan phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và Chi nhánh; 10 Công ty con và 26 Công ty liên doanh liên kết.
Theo Điều lệ, Tổng Công ty Thép Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực chính là sản xuất và phân phối sản phẩm thép. Loại thứ hai là các doanh nghiệp nhà nước không nằm trong Tổng Công ty Thép Việt Nam. Loại này bao gồm các nhà máy cán mini của các nhà máy cơ khí và các xí nghiệp quốc phòng có công suất nhỏ từ 10. Gần đây có dự án nhà máy Thép Việt – Ý của Tổng Công ty xây dựng Sông Đà với công suất 200.000 tấn/năm đã đi vào họat động.
Các liên doanh vốn đầu tư nước ngoài: Từ đầu những năm 1990, thực hiện chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Tổng Công ty Thép Việt Nam đã góp vốn xây dựng được 13 liên doanh hoạt động trong lĩnh vực cán thép dài, ống hàn, tôn mạ kẽm. Trong đó có 5 liên doanh cán thép xây dựng. Vina Kyoei, VSC-POSCO, VINAUSTEEL có thiết bị cán liên hoàn theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, còn các doanh nghiệp khác thì có thiết bị cỡ nhỏ bán liên hoàn. Năng lực cán của 5 doanh nghiệp cộng lại là khỏang 1,2 triệu tấn/năm.
Ngoài các liên doanh của Tổng Công ty Thép Việt Nam, còn có một số doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tham gia vào ngành công nghiệp thép Việt Nam như Công ty Sunsteel, Bluescopsteel. Các thao tác cơ bản trong dây chuyền công nghệ của các liên doanh đều được tự động hoá. Do vậy, như đã phân tích ở trên các liên doanh cơ bản đều có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tốt hơn so với các nhà máy của Tổng Công ty Thép Việt Nam. Các doanh nghiệp cán kéo thép dài đều sử dụng thép phôi nhập khẩu, trong chiến lược của các doanh nghiệp này có hai hướng : một là sử dụng các thiết bị công nghiệp tiên tiến để sản xuất thép có chất lượng cao và bán với giá cao, hai là sử dụng các thiết bị rẻ tiền để sản xuất thép có chất lượng trung bình và bán với giá thấp.
Vina Kyoei là ví dụ cho hướng thứ nhất, còn Thép Tây Đô là ví dụ cho hướng thứ hai. Sản phẩm của các liên doanh do có chất lượng tốt đã chiếm lĩnh hơn 20% thị phần thép tiêu thụ của cả nước. - Các nhà sản xuất thép do tư nhân trong nước và 100% vốn nước ngoài đầu tư Trong nhóm này có thể chia ra làm 3 loại. Loại thứ nhất doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, hiện tại có 2 doanh nghiệp là VINATAFONG 100% vốn của Đài Loan với công suất 300.000 tấn/năm và nhà mày thép kết cấu SSE 100% vốn của Úc công suất 250.
- 14 – Nâng cao năng lực tài chính nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam _______________________________________________________________________________ Loại thứ hai là các doanh nghiệp tư nhân. Trong loại này đáng kể nhất là một số nhà máy mới đã đi vào họat động hiện nay bao gồm: nhà máy thép Nam Đô công suất 120.000 tấn/năm, Công ty thương mại cổ phần Hải Phòng công suất 170.000 tấn/năm, Công ty An Việt công suất 200.000 tấn/năm và Công ty Hoà Phát công suất 250. Công ty thép Pomina công suất 600.000 tấn/năm, Công ty thép Pomihoa công suất 250.000 tấn/năm … Đây là những nhà máy mới có dây chuyền cán hiện đại chủ yếu nhập khẩu của Italia và Đức. Loại thứ ba là hộ sản xuất gia đình có quy mô rất nhỏ.
Trong nhóm này bao gồm khoảng hơn 200 cơ sở sản xuất nhỏ, đang sử dụng các lò luyện thép và cán thép rất nhỏ, kiểu mini thủ công có công suất bình quân dưới 1. Tổng công suất của khu vực này ước khoảng 250. Theo Hiệp hội thép Việt Nam, tổng công suất cán thép của nước ta tính đến thời điểm 12/2007 ước khoảng 7,3 triệu tấn thép cán. Trong đó các đơn vị ngoài Tổng công ty thép Việt Nam chiếm tới gần 65% công suất thiết kế.
Qua phân tích về cơ cấu ngành thép hiện nay cho ta thấy rằng: - Ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số dây chuyền của khu vực tư nhân mớí đầu tư, trình độ công nghệ và thiết bị của Tổng công ty thép tiên tiến hơn. Xét về ngắn hạn, Tổng công ty thép có lợi thế cạnh tranh về công nghệ. - Về sản phẩm, mặc dù sản phẩm dài vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu sản phẩm, Tổng công ty thép Việt Nam là nhà sản xuất đầu tiên ở nước ta bắt đầu mở rộng cơ cấu sản phẩm thép dẹt (cuộn cán nguội). - Xét về tổng thể cả nước, có sự mất cân đối giữa khâu luyện và cán thép.
Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé, chỉ đáp ứng khoảng gần 50% nhu cầu phôi cho cán thép. Tuy nhiên, để sản xuất ra số lượng phôi như vậy, tòan ngành phải nhập đến hơn 60% phế liệu. - Xét về lực lượng lao động, mặc dù phần lớn cán bộ kỹ thuật làm việc trong ngành công nghiệp thép được trưởng thành từ các cơ sở của Tổng công ty thép Việt Nam nhưng lực lượng lao động của Tổng công ty thép lớn tuổi và chưa theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật. Do đó năng suất lao động tòan ngành thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thế giới.
- 15 – Nâng cao năng lực tài chính nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam _______________________________________________________________________________ Cơ cấu Ngành thép được thể hiện ở biểu đồ sau : Cô caáu ngaø nh nh theùp 4% 34% 37% TCTy D NLD DNTN 25% Khac 7 2.