phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương (8 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ NÔNG THÔN 1. Khái niệm về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn 1. Khái niệm kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn Kết cấu hạ tầng là khái niệm rộng, phức tạp và có thể được hiểu theo các phạm vi giới hạn khác nhau.
Theo đó, hiểu theo nghĩa rộng nhất, KCHT bao gồm KCHT cứng và KCHT mềm. Kết cấu hạ tầng cứng là toàn bộ cơ sở hạ tầng dưới dạng các hình thái vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho phát triển kinh tế, xã hội. Kết cấu hạ tầng mềm là toàn bộ cơ sở luật pháp, cơ chế, chính sách, thông tin và con người… phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội. Rõ ràng, theo cách hiểu như trên, những yếu tố được coi là tạo cơ sở, nền tảng cho việc phát triển KCHT là rất đa dạng.
Theo nghĩa hẹp, KCHT được đề cập đến dưới hình thái kết cấu vật chất - kỹ thuật. Kết cấu hạ tầng là những hệ thống, công trình vật chất - kỹ thuật được xây dựng, vận hành theo một hệ thống cấu trúc nhất định, đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra trên đó. Theo cách tiếp cận này, KCHT là toàn bộ các hệ thống, công trình vật chất - kỹ thuật có vai trò làm nền tảng và điều kiện chung bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, KCHT là tổng thể các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra.
Nó bao gồm những hệ thống cấu trúc, thiết bị và công trình vật chất, kỹ thuật được xây dựng và sử dụng để phục vụ cho các quá trình sản xuất và nâng cao đời sống của dân cư. Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa, khái niệm thống nhất về nông thôn nhưng về cơ bản khái niệm nông thôn thường được đặt trong mối quan hệ so sánh với khái niệm đô thị. Luan van 11 Nếu căn cứ vào điều kiện thực tế và xét dưới góc độ quản lý, thì: Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn. Nếu xem xét dưới góc độ nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc thù thì: Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân cư sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp.
Các quan niệm trên đều khẳng định: Các cư dân sống ở nông thôn chủ yếu là nông dân và làm nghề nông với các ngành sản xuất vật chất là nông, lâm, ngư nghiệp, các ngành nghề sản xuất kinh doanh và dịch vụ phi nông nghiệp; dân cư của nông thôn là dân cư của xã hội chậm phát triển. Tuy nhiên khái niệm nông thôn chỉ có tính tương đối, một vùng nông thôn có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như từng địa phương. Quan niệm về nông thôn theo cách hiểu truyền thống thường được cho là địa bàn mà dân cư sinh sống chủ yếu là nông dân, hoạt động sản xuất cơ bản và bao trùm là nông nghiệp. Dấu hiệu để xác định KCHTKT nông thôn, và phân biệt nó với KCHT đô thị, khu công nghiệp trước hết là ở sự phân bố không gian lãnh thổ, tính năng tác dụng và đối tượng tác động, phục vụ của nó.
Trong đó, việc tạo lập trong các làng xã, phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân là những dấu hiệu nổi bật. Có thể phân biệt đô thị và nông thôn theo 3 đặc trưng cơ bản đó là: Về dân cư, ở đô thị dân cư chủ yếu hoạt động lao động trong lĩnh vực công nghiệp hoặc cung cấp các dịch vụ mang tính công cộng hoặc tư nhân. Còn đối với nông thôn, dân cư chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Lĩnh vực dịch vụ phát triển nhưng ở cấp độ thấp, đơn giản.
Luan van 12 Về lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp. Còn đối với nông thôn, đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp. Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, khu vực nông thôn có những đặc trưng về lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã, được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Đặc trưng này bao gồm từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi.
đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế. ngay cả đến hệ thống KCHT như giao thông, năng lượng, nhà ở… đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống khác biệt nhau. Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn.
Tuy nhiên, sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã dần làm thay đổi khu vực nông thôn. Hiện nay, nông thôn không chỉ là khu vực hoạt động sản xuất nông nghiệp thuần tuý mà còn phát triển cả hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn không chỉ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mà còn phục vụ cho các ngành công nghiệp và dịch vụ diễn ra trên địa bàn nông thôn. KCHT ở nông thôn không chỉ phục vụ cho phát triển kinh tế mà còn phục vụ cho cả đời sống văn hoá, tinh thần cho mọi người dân sống trong khu vực nông thôn.
Trên thực tế, KCHTKT nông thôn cũng mang những tính chất, đặc trưng của hạ tầng kinh tế - xã hội nói chung và là nền tảng vật chất, cung cấp dịch vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội của toàn ngành nông nghiệp và nông thôn, của vùng và của làng, xã. Hiện nay, KCHTKT nông thôn thường được Luan van 13 phân chia thành hạ tầng kinh tế - kỹ thuật như: Hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, hệ thống thông tin liên lạc, cấp thoát nước… và hạ tầng văn hóa - xã hội như: Các cơ sở giáo dục - đào tạo, cơ sở y tế, các công trình văn hoá và phúc lợi xã hội khác. Khi xem xét về KCHTKT nông thôn cũng cần thấy rằng, sự phát triển của mỗi làng, xã không thể chỉ xem xét trên phạm vi hẹp với những kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với nó, xét theo địa lý và lĩnh vực: Đường xá, giao thông, công trình thuỷ lợi, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục… vì trong CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, sự gắn kết và ảnh hưởng lan tỏa giữa các làng xã, giữa các huyện, giữa thành thị và nông thôn khá rõ nét kể cả trong phát triển và giao lưu kinh tế. Do vậy sẽ có một số công trình trong KCHTKT như các tuyến đường liên xã, liên huyện, các hệ thống thuỷ nông, trạm bơm, trạm điện… tuy không thuộc quyền sở hữu của một làng xã nhất định, nhưng lại phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội của nhiều xã hoặc cả vùng thì những hạ tầng này cũng thuộc phạm vi của KCHTKT nông thôn.
Những KCHTKT đó thường nằm trong phạm vi quản lý của các ban ngành thuộc bộ máy chính quyền cấp huyện hoặc ngành dọc cấp Sở (như hệ thống thuỷ nông thuộc quyền quản lý của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn). Thực tế, cộng đồng dân cư của các xã vừa được hưởng lợi từ khai thác từ sử dụng, vừa có nghĩa vụ tham gia vào quản lý, bảo vệ và duy tu bảo dưỡng các kết cấu hạ tầng này. Có thể nói, đối với nước ta trong suốt chiều dài lịch sử phát triển ở các vùng nông thôn đã hình thành một hệ thống KCHTKT phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, chợ. Hệ thống này phục vụ cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau.
Việc thiếu những cơ sở này có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực nông thôn. Nếu không có Luan van 14 đường xá thì không thể có hoạt động vận tải hàng hoá và hành khách; không có chợ, cửa hàng, kho tàng thì không thể tổ chức các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá… Điều đó càng khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hệ thống KCHTKT nông thôn trong tiến trình CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn hiện nay. Chính sự phát triển của KCHTKT sẽ góp phần tạo bước phát triển đột phá thúc đẩy kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, gắn kết kinh tế giữa các vùng, miền và từ đó phát huy được thế mạnh kinh tế của mỗi địa phương phù hợp với quy luật chung của kinh tế thị trường. Như vậy, có thể hiểu phát triển KCHTKT nông thôn là quá trình làm gia tăng số lượng, chất lượng, cơ cấu hệ thống thiết bị và công trình vật chất - kỹ thuật được tạo lập, phân bổ và phát triển trong các vùng nông thôn.
Khái niệm trên biểu hiện: Một là, phát triển KCHTKT nông thôn luôn đi trước một bước, thể hiện tính tiên phong, mở đường cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Hai là, phát triển KCHTKT nông thôn luôn phải đảm bảo nâng cao cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường. Ba là, phát triển KCHTKT nông thôn phải đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội ở vùng nông thôn. Bốn là, phát triển KC HTKT nông thôn phải góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá nông thôn.
Nội dung của phát triển KCHTKT nông thôn tỉnh Đồng Nai bao gồm: Thứ nhất, về số lượng KCHTKT nông thôn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, cũng như quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.