Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển kinh tế biển Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng giai đoạn 2007 đến 2015 Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng trong thời gian tới (2017 - 2025) Kết luận. Danh mục tài liệu tham khảo. z 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở HẢI PHÒNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế biển 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế biển cấp quốc gia a. Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế biển của Việt Nam Cuốn sách Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập [96]. Nội dung chính của các bài viết mà cuốn sách đề cập là: vận tải biển, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành hàng hải.
Những bài viết cũng phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến việc phát triển kinh tế biển ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cuốn sách 100 Câu hỏi - đáp về biển, đảo Việt Nam dành cho tuổi trẻ Việt Nam [8]. Cuốn sách trình bày những vấn đề về biển, đảo; về không gian biển, đảo của đất nước; chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, đảo; về tài nguyên và môi trường biển, về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với những vấn đề biển, đảo nói chung, Biển Đông nói riêng trong ba 3 phần: Hỏi - Đáp về vị trí, vai trò và tiềm năng của biển, đảo Việt Nam; Hỏi - Đáp về các vấn đề liên quan đến các quyền và bảo vệ các quyền của Việt Nam ở Biển Đông và Hỏi - Đáp về xây dựng và phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam. Tác giả Lại Lâm Anh với cuốn sách Phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia, Singapore và gợi ý chính sách cho Việt Nam [4].
Cuốn sách cho thấy quá trình phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia, Singapore với cả những thành tựu và hạn chế. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển kinh tế biển Việt Nam. z 7 Cuốn sách Việt Nam - Truyền thống kinh tế - văn hóa biển [38]. Cuốn sách tập hợp các bài viết về không gian văn hoá, xã hội biển Việt Nam, tiềm năng kinh tế, hoạt động thương mại của người Việt qua các thời kì lịch sử, tầm nhìn và tư duy hướng biển của một số triều đại và nhân vật lịch sử Việt Nam.
Luận án Quản lý kinh tế biển: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam của Lại Lâm Anh [3]. Tác giả trình bày những kinh nghiệm quản lý kinh tế biển ở một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản… và đưa ra những bài học để quản lý kinh tế biển Việt Nam hiệu quả hơn nữa. Ngoài ra còn rất nhiều bài viết liên quan đến kinh tế biển như: bài viết "Chiến lược biển đến năm 2020 cú hích cho phát triển kinh tế biển" của Quang Nguyễn, [82, tr.14-15]; Vũ Thị Nhài với bài viết "Về phát triển kinh tế biển hiện nay" [80, tr.8-10]; Bùi Thị Thanh Hương với "Phát triển kinh tế biển: Kinh nghiệm quốc tế và một số vấn đề đối với Việt Nam" [69, tr.35-39]; Nguyễn Văn Tình với bài "Đảng bộ quân chủng Hải quân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh" [120, tr.42-46]; Lê Nguyễn với bài "Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam" [81, tr.4-5]; Bùi Tất Thắng với bài viết "Sự phát triển kinh tế biển và chiến lược biển của một số nước trên thế giới" [103, tr.43-46], "Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam" [104, tr.6-9]; "Chiến lược kinh tế biển một số kinh nghiệm thế giới" [104, tr.18 - 21]… Các tác giả chỉ ra mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo; góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển.
Phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta z 8 trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế. Các tác giả khẳng định: những chủ trương, nội dung của mục tiêu chiến lược đầu tư, khai thác, phát triển kinh tế biển, đảo ở nước ta đã được xác định, triển khai từ rất sớm và mang tính xuyên suốt. Sự kết hợp tổ chức triển khai thực hiện được xác định ở tất cả các cấp, các lĩnh vực, như: trong quy hoạch tổng thể của quốc gia, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch tăng cường lực lượng quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, bên cạnh xây dựng và ban hành các chủ trương chính sách mang tầm vĩ mô, Đảng và Nhà nước ta còn luôn luôn chú trọng xây dựng các chính sách để phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa phương ven biển, các đảo, quần đảo.
Trên cơ sở các nghị quyết của Đảng, quyết định của Chính phủ, các ngành, các cấp đã xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình hành động cho từng lĩnh vực, ở từng địa bàn và bước đầu triển khai đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận. Công tác khảo sát, thăm dò, nghiên cứu khoa học biển ngày càng được quan tâm, làm cơ sở cho việc phát triển các ngành, các vùng kinh tế biển, cũng như việc hoạch định các chính sách quản lý tài nguyên môi trường biển của đất nước. Cơ cấu ngành nghề biển từng bước được điều chỉnh ngày càng hợp lý hơn. Những ngành khai thác và sử dụng lợi thế của biển như: vận tải biển, dịch vụ hàng hải, du lịch, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản xa bờ đang được đẩy mạnh.
Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cư dân biển, đảo; hoạt động khai thác, bảo vệ môi trường, đầu tư để tái tạo và làm giàu tiềm năng biển cũng được các ngành, các cấp quan tâm và đã tạo nên những chuyển biến mới. Các công trình nghiên cứu đã khẳng định: Việt Nam là quốc gia có hơn ba nghìn hòn đảo lớn nhỏ và bờ biển dài hơn 3.260 km bao bọc lãnh thổ ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, với chỉ số biển (khoảng 0,01) cao gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới. Cả nước hiện có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc z 9 Trung ương có biển với tổng diện tích 208. Biển, đảo còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước khi hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn đều gắn kết với biển.
Trước hết là dầu khí, với trữ lượng khoảng từ 3 đến 4 tỉ tấn dầu quy đổi, cùng các loại khoáng sản có giá trị khác như than, sắt, ti tan, cát thuỷ tinh. Nguồn lợi hải sản với chủng loại rất phong phú, đa dạng, có tổng trữ lượng khoảng từ 3 đến 4 triệu tấn. Dọc bờ biển có hơn 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó có nhiều nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển quốc tế. Ngoài ra, biển nước ta còn có 125 bãi biển lớn, nhỏ, nước trong và sạch, nắng ấm quanh năm, không khí trong lành với cảnh quan đẹp.
là điều kiện lý tưởng để xây dựng các khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch cao cấp. Tuy vậy, các tác giả cho rằng, phát triển của kinh tế biển, đảo ở nước ta vẫn chưa xứng tầm với các điều kiện và lợi thế sẵn có. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, thông tin liên lạc. bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô mới chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước.
Nói cách khác, Việt Nam vẫn chưa thực sự phát huy được nhiều các thế mạnh, tiềm năng của biển, đảo và vẫn chưa phải là quốc gia mạnh về biển. Bên cạnh đó, các tác giả chỉ ra rằng: khu vực Biển Đông đang tiếp tục trở thành một trong những điểm nóng nên việc hợp tác và hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này gặp không ít khó khăn. Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển và hải đảo, những vi phạm trong quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển ở bình diện quốc tế còn nhiều bất cập. Các tác giả cho rằng, để phát triển kinh tế biển bền vững, Việt Nam cần tập trung vào các nhóm giải pháp sau: chú trọng quy hoạch và tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, luật pháp về lĩnh vực biển, đảo; có cơ chế phù hợp để hỗ trợ phát triển kinh tế biển, đảo.
Nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm hay trong tổ chức sản xuất trên biển, đảo. Hình thành và phát triển z 10 một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như: du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản. Chuyển hướng mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ nghề cá gần bờ, ven đảo sang nghề cá xa bờ, gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Tăng cường năng lực khai thác xa bờ và nuôi trồng hải sản, dịch vụ hàng hải, dịch vụ nghề cá.
Các cơ sở hạ tầng nghề cá như cảng, bến cá, dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tránh bão cho tàu, thuyền và hạ tầng nuôi trồng hải sản cũng cần được đầu tư xây dựng đồng bộ, có quy mô lớn. Phát triển du lịch cũng là một trong những hướng trọng điểm, mang tính đột phá trong phát triển kinh tế biển, đảo cần được đầu tư. Một số khu du lịch sinh thái biển, đảo lớn, chất lượng cao tầm cỡ khu vực và thế giới được hình thành sẽ tạo bước đột phá cho du lịch biển, đảo nói riêng, du lịch cả nước nói chung.