Tổng quan luận án
Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) gây ra là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm và thường xuyên đối với sản xuất lúa tại miền Bắc Việt Nam, đồng thời có xu hướng lây lan mạnh sang các vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ. Thực tế sản xuất cho thấy phần lớn các giống lúa có khả năng kháng bệnh bạc lá tốt lại có năng suất và phẩm chất gạo chưa cao; ngược lại, những giống lúa có năng suất và chất lượng tốt lại rất mẫn cảm với vi khuẩn gây bệnh. Trong khi các phương pháp chọn giống truyền thống thông qua lai hữu tính thường tốn nhiều thời gian và dễ làm phân ly các tổ hợp tính trạng quý vốn có, phương pháp đột biến nhân tạo (bằng tia gamma hoặc bức xạ ion beam) kết hợp với công nghệ chỉ thị phân tử cho phép tác động trực tiếp vào các tính trạng đích như năng suất, phẩm chất hạt mà vẫn duy trì được các gen kháng bệnh nền tảng.
Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng một số dòng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Huy Hàm tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2020) đã giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Cải tiến năng suất (đạt 6 – 7 tấn/ha) của các dòng lúa mang gen kháng bệnh bạc lá.
- Cải tiến một hoặc nhiều chỉ tiêu chất lượng (mùi thơm, độ trắng, độ mềm dẻo, vị ngon) của các dòng lúa kháng bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử.
Đối tượng nghiên cứu
- Các dòng và giống lúa mang gen kháng bệnh bạc lá nhưng còn hạn chế về năng suất và chất lượng (như các dòng nền BT62, HC62, các dòng lúa đẳng gen NILs và các dòng đột biến qua các thế hệ M1–M5, nổi bật là dòng triển vọng D14).
- Các chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây bệnh bạc lá lúa phân lập tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
- Chuyên ngành: Di truyền và Chọn giống cây trồng (Mã số: 9.11), thuộc lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp.
- Không gian thực hiện: Phòng thí nghiệm của Viện Di truyền Nông nghiệp (Bắc Từ Liêm, Hà Nội); Trung tâm nghiên cứu Năng lượng Wakasa-wan (Fukui, Nhật Bản); các vùng thí nghiệm đồng ruộng tại Hợp tác xã Thượng Cát (Bắc Từ Liêm, Hà Nội), Hợp tác xã Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) và tỉnh Thái Bình.
- Thời gian và khuôn khổ: Nghiên cứu được triển khai liên tục qua các vụ Mùa và vụ Xuân từ năm 2012 đến năm 2017, gắn liền với Đề tài cấp Nhà nước mã số KC.09/11-15 của Bộ Khoa học & Công nghệ và chương trình học bổng FIHRDC/FY 2016 tại Nhật Bản.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về lý thuyết và thực tiễn chọn giống đột biến, bệnh học vi khuẩn bạc lá và công nghệ sinh học phân tử trên cây lúa thông qua các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
1. Thành tựu chọn giống đột biến trên thế giới và trong nước
- Trên thế giới: Thống kê từ Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA, 2017) ghi nhận 3.246 giống cây trồng mới thuộc hơn 200 loài được tạo ra nhờ đột biến nhân tạo, trong đó châu Á chiếm 1.963 giống. Pathirana (2011) chỉ ra ưu điểm của đột biến là cải tiến các tính trạng chưa hoàn thiện mà không làm mất đi các đặc tính tốt vốn có. Nghiên cứu của Harding và cs. tại Sierra Leone xác định liều gây chết 50% (LD50) của tia gamma trên lúa dao động 345–423 Gy; Haris và cs. tại Malaysia khảo sát liều 200 Gy trên giống Ase Lapang và Mandoti; Ibrahim và cs. tại Ai Cập khảo sát các liều 150, 200, 250 Gy trên giống Sakha 105. Các quốc gia như Trung Quốc (810 giống thương mại đến năm 1991 theo Wang và cs.), Nhật Bản (481 giống đến 2008 theo Shu, Nakagawa), Ấn Độ (giống PNR 381, PNR 102 theo Ahloowalia và cs., Bughio và cs.), Thái Lan (giống lúa thơm RD6, RD15 theo Ahloowalia và cs.), và Bangladesh (giống Binasail, Binadhan-6 theo Hakeem và cs.) đều ứng dụng rộng rãi phương pháp này.
- Ứng dụng bức xạ ion beam: Shikazono và cs. (2003, 2005), Tanaka và cs. (2010), Ishikawa và cs. (2012), Yamaguchi và cs., Magori và cs., Hirano và cs. khẳng định chùm hạt ion (Carbon, Helium, Neon) có hệ số truyền năng lượng tuyến tính (LET) cao, tạo ra các tổn thương lớn trên ADN (đột biến đảo đoạn, chuyển đoạn, sắp xếp lại và Indel kích thước lớn) với phổ đột biến rộng hơn tia gamma. Đào Thanh Bằng và cs. (2011), Nguyễn Thị Hồng và cs. đã bước đầu triển khai ion beam tại Việt Nam.
| Tác nhân gây đột biến |
Thay thế bazơ nitơ (%) |
Indel $\le$ 2 bp (%) |
3 bp $\le$ Indel $\le$ 100 bp (%) |
Indel > 100 bp (%) |
Sắp xếp lại NST (%) |
| Đột biến tự phát (Ossomski và cs., 2010) |
85 |
11 |
2 |
2 |
0 |
| Tia electron (Shikazono và cs., 2005) |
33 |
33 |
8 |
0 |
25 |
| Neutron nhanh (Belfield và cs., 2012) |
59 |
20 |
19 |
1 |
0 |
| Chùm hạt Carbon ion (Shikazono và cs., 2005) |
7 |
18 |
25 |
18 |
32 |
- Tại Việt Nam: Lương Đình Của khởi xướng phương pháp đột biến từ thập niên 1960; Phan Phải và cs. phát triển từ năm 1980; tiếp nối bởi các nghiên cứu của Trần Duy Quý, Nguyễn Hữu Đống, Trần Đình Long, Mai Quang Vinh, Đỗ Hữu Ất, Lâm Quang Dụ, Nguyễn Văn Bích, Nguyễn Quang Xu, Lê Văn Nhạ. Đến năm 2017, Việt Nam đã tạo ra 63 giống cây trồng đột biến (Lê Huy Hàm và cs.), trong đó có các giống lúa trồng diện rộng như DT10 (1 triệu ha trong thập kỷ 90), Khang dân đột biến (100.000 ha/năm), DT39 Quế Lâm (Đào Thanh Bằng và cs.), NPT3, BQ, TQ14 (Trần Duy Quý và cs.), VND95-20, VND99-3 (Đỗ Khắc Thịnh và cs.), OM2717, OM2718 (Trần Thị Thanh Xà và cs.), ST đỏ, ST20 (Trần Tấn Phương và cs., 2015), CTUSM1, CTUSM2 (Quách Thị Ái Liên, 2013).
2. Dịch tễ học bệnh bạc lá và hệ gen kháng
- Vũ Triệu Mân (2007) phân loại hai dạng triệu chứng: bạc lá gợn vàng (phổ biến) và bạc lá tái xanh (trên các giống ngắn ngày, phiến lá to như T1, X1, NN27). Vi khuẩn Xoo phát triển tối ưu ở 28°C, xâm nhập thụ động qua thủy khổng, khí khổng và vết thương cơ giới. Nguồn bệnh lưu tồn tại hạt giống, tàn dư cây bệnh và cỏ dại họ hòa thảo.
- Về phân nhóm nòi: Noda và Ohuchi (1989) phân 7 nhóm nòi ở Nhật Bản; Lê Lương Tề và Tạ Minh Sơn (1987) phân 10 nhóm nòi ở Việt Nam dựa trên 8 dòng chỉ thị mang gen Xa2, Xa3, Xa4, xa5, Xa7, Xa10, Xa11, Xa14; Bùi Trọng Thủy và cs. ghi nhận 13 nhóm nòi trên 11 dòng chỉ thị; Cục Bảo vệ Thực vật (2010) xác định 13 nhóm nòi từ 47 chủng phân lập bằng mồi XOR. Thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT cho thấy diện tích nhiễm bệnh năm 2013 đạt 135,4 nghìn ha (tăng gấp 6,5 lần so với 2010), làm mất trắng hơn 9,5 nghìn ha; năm 2016 tại Ninh Bình thiệt hại gần 8 nghìn ha; năm 2018 tại Nam Bộ nhiễm 21.780 ha.
- Về gen kháng: Tính đến năm 2018 có 42 gen kháng bạc lá được công bố (Busungu và cs., 2018), gồm 29 gen trội và 13 gen lặn định vị trên các nhiễm sắc thể số 4, 5, 6, 8 và 11. Các nghiên cứu của Bùi Trọng Thủy và cs., Hoàng Đình Đình và cs., Nguyễn Thị Hồng và cs. chứng minh các gen xa5, Xa7, xa13, Xa21 và các tổ hợp đa gen (Xa4+Xa21, xa5+Xa21, Xa4+xa5+Xa7, Xa4+Xa7+Xa21, xa5+Xa7+xa13) thể hiện hiệu lực kháng cao và bền vững nhất trước các chủng vi khuẩn bạc lá tại Việt Nam.
3. Hệ thống gen/QTL quy định năng suất và kích thước hạt
Các công trình quốc tế đã xác định nhiều gen kiểm soát các yếu tố cấu thành năng suất: WFP/OsSPL14/IPA1 (Miura và cs., Jiao và cs.) điều hòa số nhánh và độ cứng thân; Gn1a/OsCKX2 (Ashikari và cs., Li và cs.) kiểm soát số hạt trên bông; GS3 (Fan và cs., Mao và cs.), GW2 (Song và cs.), qSW5 (Shomura và cs.), GW5 (Weng và cs.), GW8/OsSPL16 (Wang và cs.), qGL3/OsPPKL1 (Zhang và cs.), OsglHAT1 (Song và cs.), GW7 (Wang và cs.), OsFH15 (Sun và cs.), GL3.1 (Qi và cs.), TGW6 (Ishimaru và cs.), GS5 (Li và cs., Xu và cs.), fc1 (Minakuchi và cs.), TB1 (Choi và cs.); đặc biệt là gen Ghd7 (Xue và cs., Xing và cs., Lu và cs.) có kích thước 3.917 bp gồm 2 exon mã hóa protein miền CCT (256 axit amin) đồng thời điều khiển số hạt trên bông, chiều cao cây và thời gian trỗ.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Khai thác đồng thời ưu thế của tác nhân gây đột biến vật lý (tia gamma và chùm ion beam) với công nghệ chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS) và giải trình tự gen để khắc phục nhược điểm năng suất thấp, phẩm chất kém ở các dòng lúa đã mang gen kháng bạc lá sẵn có (Xa4, Xa7, Xa21), tạo ra nguồn vật liệu và các dòng giống triển vọng vừa kháng bệnh vừa có năng suất đạt 6–7 tấn/ha.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết di truyền đột biến thực nghiệm: Cơ chế bức xạ ion hóa tạo ra các đứt gãy mạch đôi và mạch đơn trên ADN, kích hoạt các quá trình tái tổ hợp và biến dị cấu trúc ở mức độ phân tử và tế bào.
- Nguyên lý chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS): Nhận diện trực tiếp sự hiện diện của các gen kháng bệnh mục tiêu (Xa4, Xa7, Xa21) và đánh giá mức độ tương đồng/sai khác di truyền thông qua các locus vi vệ tinh SSR.
- Tương tác gen kháng - chủng độc lực: Đánh giá phản ứng siêu nhạy và mức độ kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn Xoo trên các dòng mang đơn gen hoặc đa gen kháng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp gây đột biến và chọn lọc: Thực hiện theo quy chuẩn FAO/IAEA (2011). Xử lý hạt khô và hạt ướt bằng tia gamma ($^{60}\text{Co}$) ở các dải liều chiếu khác nhau nhằm xác định liều tối ưu và tỷ lệ sống sót; xử lý chùm hạt ion beam (Carbon ion LET 107 keV/µm và 76 keV/µm; Helium ion LET 9 keV/µm) tại Trung tâm Năng lượng Wakasa-wan. Đánh giá quần thể từ thế hệ M1 đến M5 tại ruộng thí nghiệm HTX Thượng Cát.
- Phương pháp lây nhiễm nhân tạo bệnh bạc lá: Quy trình JICA (2003). Sử dụng phương pháp cắt lá nhúng dịch vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae ở giai đoạn làm đòng/trỗ với mật độ vi khuẩn chuẩn, đo chiều dài vết bệnh sau 14–21 ngày để phân cấp phản ứng kháng (R: $\le 3\text{ cm}$), kháng vừa (M: $3 - 6\text{ cm}$) và nhiễm (S: $> 6\text{ cm}$).
- Phương pháp sinh học phân tử:
- Tách chiết ADN tổng số từ mô lá non theo phương pháp CTAB cải tiến.
- Phản ứng PCR khuếch đại các chỉ thị liên kết gen kháng: primer MP1-2 cho gen Xa4, primer P3/RM20573 cho gen Xa7, primer pTA248 cho gen Xa21.
- Phân tích đa dạng và sai khác di truyền bằng hệ thống mồi vi vệ tinh SSR (Rice Microsatellite - RM), điện di sản phẩm trên gel agarose 2,5%, tính toán số alen và hệ số đa hình thông tin di truyền PIC (Polymorphism Information Content).
- Khuếch đại và giải trình tự nucleotide của gen Ghd7 (bao gồm vùng Exon 1 và Exon 2) để so sánh các biến đổi cấu trúc giữa dòng đột biến và dạng gốc.
- Phương pháp đánh giá nông sinh học và chất lượng: Đo đếm các chỉ tiêu hình thái (chiều cao cây, số nhánh/khóm, chiều dài bông), các yếu tố cấu thành năng suất (số hạt chắc/bông, tỷ lệ lép, khối lượng 1000 hạt), năng suất lý thuyết (NSLT) và năng suất thực thu (NSTT). Phân tích hình thái hạt gạo (chiều dài, hình dạng, độ bạc bụng), tỷ lệ amylose và xếp hạng cảm quan chất lượng cơm theo thang điểm tiêu chuẩn quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài
Chương này tổng kết toàn diện các cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm về tác nhân đột biến vật lý (phổ tác động của tia gamma, chùm ion beam, neutron, electron), lịch sử ứng dụng đột biến chọn giống tại Việt Nam và các nước trên thế giới. Đồng thời, tác giả tổng thuật chi tiết đặc tính sinh thái, dịch tễ của bệnh bạc lá lúa, phân nhóm nòi vi khuẩn Xoo tại miền Bắc, danh mục 42 gen kháng bạc lá, các chỉ thị phân tử tương ứng, cùng cơ chế phân tử của hơn 15 gen/QTL kiểm soát năng suất và kích thước hạt (Ghd7, GS3, GW2, qSW5, WFP...).
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết danh mục nguồn vật liệu nghiên cứu bao gồm:
- Các dòng lúa mang gen kháng bệnh bạc lá làm vật liệu chiếu xạ (BT62, HC62).
- Tập đoàn các dòng lúa đẳng gen (NILs) phục vụ nghiên cứu bệnh bạc lá trên nền di truyền giống IR24, Toyonishiki và Milyang 23 (IR-BB1 đến IR-BB24, IR-BB101 đến IR-BB111, IR-BB201 đến IR-BB211).
- Các chủng vi khuẩn Xoo đại diện phân lập tại miền Bắc (trong đó có chủng 3).
- Hệ thống chỉ thị phân tử (STS, SSR) và cặp mồi giải trình tự gen Ghd7.
- Mô tả chi tiết quy trình xử lý chiếu xạ, kỹ thuật gieo trồng đánh giá M1–M5, phương pháp lây bệnh nhân tạo JICA (2003), quy trình PCR/điện di và phương pháp xác định các chỉ tiêu nông sinh học, năng suất thực thu và chất lượng hạt/cơm.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày các phát hiện thực nghiệm qua 4 nội dung trọng tâm:
- Đánh giá nguồn vật liệu khởi đầu: Khảo sát tính kháng bạc lá và đặc điểm nông sinh học của các dòng vật liệu (BT62, HC62) trong vụ Mùa 2012 tại HTX Thượng Cát, ghi nhận khả năng kháng bệnh tốt nhưng năng suất và một số chỉ tiêu phẩm chất cần được cải tiến.
- Gây tạo vật liệu bằng chiếu xạ tia gamma và ion beam:
- Xác định ảnh hưởng của các mức liều chiếu xạ lên tỷ lệ sống sót ở giai đoạn mạ và thế hệ M1 khi chiếu xạ hạt khô và hạt ướt trên hai dòng BT62 và HC62.
- Ghi nhận biến dị kiểu hình ở M1 (vụ Mùa 2012) và đánh giá tần số đột biến về hình thái (chiều cao, thế lá, thời gian trỗ), cấu thành năng suất (số nhánh hữu hiệu, số hạt chắc/bông, tỷ lệ lép) ở thế hệ M2 (vụ Xuân 2013).
- Chọn lọc qua các thế hệ thu được 52 dòng đột biến có ý nghĩa cho chọn giống tại vụ Xuân 2015 với các đặc tính nông học phân kỳ rõ rệt.
- Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống và phân tích di truyền:
- Sử dụng các primer đặc hiệu (MP1-2, P3, pTA248) sàng lọc thành công các cá thể mang gen kháng Xa4, Xa7, Xa21 trong quần thể đột biến kết hợp đánh giá phản ứng với các chủng vi khuẩn Xoo.
- Đánh giá sai khác di truyền bằng chỉ thị SSR: Khảo sát trên 41 dòng đột biến Nhóm I (nguồn gốc từ BT62) và 10 dòng đột biến Nhóm II (nguồn gốc từ HC62), tính toán số alen, chỉ số đa dạng PIC trên từng locus SSR đa hình và thiết lập sơ đồ quan hệ di truyền giữa các dòng đột biến với dòng gốc.
- Đánh giá các dòng đột biến kháng bệnh bạc lá triển vọng:
- Các dòng đột biến từ chiếu xạ tia gamma: Xác định các dòng triển vọng từ nguồn BT62 và HC62 có thời gian sinh trưởng phù hợp, tính kháng bạc lá ổn định, năng suất thực thu đạt 6 – 7 tấn/ha, chất lượng cơm mềm, đậm vị và thơm hơn dạng gốc.
- Dòng đột biến triển vọng D14 từ chiếu xạ ion beam: Dòng D14 thể hiện phản ứng kháng cao với cả 3 chủng vi khuẩn Xoo; sinh trưởng tốt trong vụ Mùa 2017 tại HTX Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội); hạt gạo trong, tỷ lệ bạc bụng thấp, cơm có độ dẻo và vị ngon vượt trội; giải trình tự gen Ghd7 phát hiện các sai khác nucleotide trên vùng Exon 1 và Exon 2 so với dạng gốc, khẳng định đột biến cấu trúc ở mức phân tử liên quan đến tính trạng năng suất và thời gian sinh trưởng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học
- Khẳng định tính hiệu quả và độ chính xác của việc tích hợp phương pháp đột biến vật lý (tia gamma nguồn $^{60}\text{Co}$ và bức xạ ion beam hạt nặng) với công nghệ chỉ thị phân tử (MAS) và giải trình tự gen trong công tác cải tiến giống cây trồng.
- Cung cấp dữ liệu phân tích sai khác di truyền ở mức độ phân tử giữa các dòng đột biến và dòng gốc thông qua hệ số đa dạng PIC của các locus SSR; đồng thời làm rõ sự biến đổi cấu trúc nucleotide trên 2 vùng exon của gen kiểm soát năng suất Ghd7 ở dòng đột biến ion beam D14.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Chọn tạo thành công 5 dòng lúa đột biến kháng bệnh bạc lá có triển vọng, đạt năng suất thực thu cao từ 6 – 7 tấn/ha, đồng thời cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu chất lượng hạt và cảm quan cơm (gạo trong, giảm bạc bụng, cơm dẻo, đậm vị).
- Xây dựng được tập đoàn gồm 52 dòng đột biến có ý nghĩa cho chọn giống, tạo nguồn vật liệu di truyền phong phú phục vụ cho các chương trình lai tạo và chọn giống lúa tiếp theo.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đưa các dòng lúa đột biến triển vọng (đặc biệt là dòng D14) vào hệ thống khảo nghiệm sản xuất và khảo nghiệm diện rộng tại các vùng sinh thái khác nhau ở miền Bắc và miền Nam.
- Khai thác tập đoàn 52 dòng đột biến làm vật liệu khởi đầu để lai chuyển hoặc chọn lọc các dòng thuần phục vụ các mục tiêu chọn giống chuyên biệt (thời gian sinh trưởng cực ngắn, chống chịu bất thuận, chất lượng cao).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và địa bàn triển khai, các thử nghiệm đồng ruộng và khảo nghiệm năng suất của dòng đột biến D14 mới tập trung chủ yếu tại Hà Nội (HTX Thượng Cát, HTX Dục Tú) và Thái Bình; việc giải trình tự gen kiểm tra sai khác phân tử ở các dòng đột biến mới chỉ tập trung trên gen Ghd7.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo nghiệm đa vùng sinh thái để đánh giá tính ổn định năng suất và độ bền vững của tính kháng bệnh bạc lá trên diện rộng; tiếp tục giải trình tự và phân tích sâu các gen/QTL kiểm soát năng suất và phẩm chất khác (GS3, GW2, qSW5, WFP...) trên toàn bộ tập đoàn các dòng đột biến đã chọn lọc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và lĩnh vực cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Di truyền và Chọn giống cây trồng, Công nghệ sinh học nông nghiệp, Bảo vệ thực vật; đặc biệt có giá trị tham khảo về quy trình chiếu xạ đột biến, kỹ thuật chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS), phương pháp lây nhiễm nhân tạo vi khuẩn theo chuẩn JICA và phân tích đa dạng di truyền SSR/giải trình tự gen.
- Cán bộ nghiên cứu tại các Viện, Trung tâm chọn tạo giống cây trồng: Cung cấp thông tin chi tiết về liều chiếu xạ tối ưu cho hạt lúa khô/ướt, phổ đột biến của chùm hạt ion beam, tổ hợp các gen kháng bạc lá hữu hiệu (Xa4, Xa7, xa13, Xa21) và tập đoàn 52 dòng vật liệu đột biến.
- Cơ quan quản lý và khuyến nông: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để định hướng cơ cấu giống lúa kháng sâu bệnh, giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh bạc lá trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đặt ra mục tiêu cụ thể nào về năng suất và chất lượng cho các dòng lúa cải tiến?
Luận án đặt mục tiêu nâng cao năng suất các dòng lúa mang gen kháng bệnh bạc lá đạt mức 6 – 7 tấn/ha, đồng thời cải tiến một hoặc nhiều chỉ tiêu chất lượng thương phẩm và cảm quan của hạt gạo bao gồm: mùi thơm, độ trắng, độ mềm dẻo và vị ngon của cơm.
2. Bức xạ ion beam có cơ chế tác động lên ADN khác biệt như thế nào so với tia gamma theo tổng quan tài liệu của luận án?
Theo các nghiên cứu được tổng quan trong luận án (Shikazono và cs., Tanaka và cs., Ishikawa và cs.), bức xạ ion beam (như Carbon ion, Helium ion) có hệ số truyền năng lượng tuyến tính (LET) cao. Tác nhân này gây ra tỷ lệ lớn các đột biến cấu trúc phức tạp trên ADN như sắp xếp lại nhiễm sắc thể (chiếm 32% trên mô hình Arabidopsis) và các đoạn Indel lớn (> 3 bp đến > 100 bp), tạo phổ đột biến rộng hơn so với tia gamma vốn chủ yếu tạo ra các đột biến điểm hoặc biến đổi nhỏ.
3. Dòng lúa đột biến triển vọng D14 được tạo ra từ tác nhân nào và có những đặc tính nổi bật gì?
Dòng D14 được tạo ra từ phương pháp chiếu xạ bằng bức xạ ion beam (thực hiện tại Trung tâm Năng lượng Wakasa-wan, Nhật Bản). Dòng này thể hiện phản ứng kháng cao với cả 3 chủng vi khuẩn Xoo, sinh trưởng tốt tại vụ Mùa 2017 ở HTX Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội), cho năng suất thực thu cao, gạo trong, ít bạc bụng, cơm dẻo ngon và được xác định có các sai khác nucleotide trên vùng Exon 1 và Exon 2 của gen Ghd7.
4. Kết quả thực tiễn lớn nhất mà luận án đã đạt được là gì?
Luận án đã chọn tạo thành công 5 dòng lúa đột biến kháng bệnh bạc lá triển vọng đạt năng suất cao 6 – 7 tấn/ha cùng chất lượng gạo/cơm được cải thiện rõ rệt, đồng thời tạo lập được tập đoàn 52 dòng đột biến có ý nghĩa chọn giống làm nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống lúa.
5. Những gen kháng bệnh bạc lá nào được tác giả xác định là hữu hiệu đối với các chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae tại Việt Nam?
Qua phân tích tổng quan và thực nghiệm đánh giá các dòng NILs, các gen kháng đơn hữu hiệu nhất tại Việt Nam là xa5, Xa7, xa13 và Xa21; trong đó các tổ hợp đa gen (Xa4+Xa21, xa5+Xa21, Xa4+xa5+Xa7, Xa4+Xa7+Xa21, xa5+Xa7+xa13) mang lại khả năng kháng rộng và bền vững nhất trước các nòi vi khuẩn phân lập tại miền Bắc.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Hồng đã ứng dụng thành công phương pháp gây đột biến nhân tạo bằng tia gamma và bức xạ ion beam kết hợp với chỉ thị phân tử (MAS, SSR) và giải trình tự gen để nâng cao năng suất và chất lượng của các dòng lúa kháng bệnh bạc lá. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra 5 dòng lúa đột biến triển vọng đạt năng suất 6 – 7 tấn/ha với phẩm chất cơm gạo được cải thiện, cùng tập đoàn 52 dòng đột biến vật liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, đóng góp trực tiếp vào công tác di truyền chọn giống cây trồng thích ứng với điều kiện dịch bệnh và an ninh lương thực.