Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE HOAT ĐỘNG LAP VI BẰNG CUA THỪA PHAT LAI 11. Khái quát về Thừa phat lại và Ví bằng do Thừa phát lại lập LLL Định nghia, đặc diém Thita phát lại và Vi bằng do Thita phát li lập 1111 Thừa phát lại Lập Vi bằng la một chức năng đặc trưng của Thửa phat lại. Chính vi vậy, để hiểu được hoạt động Lap Vi bằng, trước tiên phải hiểu về Thửa phat lại. Chức danh Thửa phát lai bắt đâu xuất hiện 6 Việt Nam song hảnh với việc vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/06/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam Ky, sau đó, bản Hiệp ước ngày 06/06/1884, đặt Việt Nam trở thành một nước dưới quyền bão hộ của Pháp [21, tr 0] Tại Miễn Bắc, sau cách mang tháng 8 năm 1945, Nha nước viết Nam.
Dan chủ Công hòa ra đời, hệ thông cơ quan tư phap mới được thiết lập trong cả nước, chế định Thửa phát lại tôn tại trước đó được duy trì và chiu sự quản. lý của Ban công lại thuộc Phòng giám đốc hộ vụ của Bộ tư pháp. 24/01/1946, Chủ tịch Hỗ Chí Minh ban hảnh sắc lệnh 13 quy định vẻ tổ chức của Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó, khoản 3, điều 3 Sắc lệnh 13, quy định: “Ban Tee pháp xã có quyền tht hành những mệnh lênh cũa thẩm phán trên, bao gôm các bản ám, quyễt định cũa tòa án" [15] Ngày 19/07/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ công hòa ban hảnh Sắc lệnh 130/SL quy định về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của tủa. án Điểu 3 của Sắc lệnh này quy dink: Trong các thi xã, khu phổ, Chủ tịch, phó chủ tịch va Thư ký đều chịu trách nhiệm thi hảnh những lệnh, mệnh lệnh.
hoặc án cia Tòa án, ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng thì đương sự co quyền nhờ Thừa phát lại nêng thi hanh mệnh lệnh [16]. Vé thẩm quyền, trach nhiệm cia Thửa phát lại trong thí hành an, Điểu 1 của Sắc lệnh trên quy. định: Các bản sao hoặc trích lục án do các phòng lục sự phát cho đương sự để thi hành các an, hoặc mệnh lệnh của các Tòa an hô đều phải có thể thức thi hành, ân định như sau: “Vậy, Chủ tịch chinh phũ Việt Nam dân chủ công hòa. truyén cho các Thừa phát lại theo yêu cầu cia đương sue tht hành bản án này, các ông chưởng ij và biên If kễm sát việc tht hành án, cai trị chi ng bính lực ghúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu iuật yêu cau.” [16] Như vậy, Sắc lệnh.
130/SL ngày 19/07/1946 chính là văn bản pháp ly đâu tiên đánh dầu sự ra đời vẻ tổ chức và hoạt động của Thita phát lại trong chế 46 mới. Tại Miễn Nam, mô hình Thừa phát lại đã tôn tại trong suốt thời ky Pháp thuộc và đưới chế độ chính quyển Sai Gòn đến ngày miễn Nam hoàn. toán gidi phóng năm 1975. ‘Tinta phát lại là công lại làm việc theo triệu dung của khách hang khí có yên cầu va theo để nghị của Tòa án trong pháp wi trách nhiệm được pháp luật quy định Mục đích của công lạ là nhằm phục vụ công lý, phục vu hoạt đồng tu pháp và nhằm bão vệ quyền và lợi ích hop pháp của công dân trong xã hội Tuy được quy định ở các Văn bản pháp luật khác nhau với những tên gọi khác nhau ờ các vùng miễn khác nhau như.
Chường Tòa (Miễn Bắc), Mé ‘Toa (Miễn Trung), Thừa phát lại (Miễn Nam) nhưng déu thể hiện la một công, Tại giông chức danh Thừa phát lại trong hệ thông tư pháp của Công hòa Pháp được quy định trong Bộ Dân luật Pháp năm 1804 va Bộ dên sự tổ tung Pháp năm 1807. Nhìn chung, Thừa phát lại trong thời kỳ Pháp thuốc và dưới chính quyền Sai gon có nhiệm vụ: (1) Các nhiệm vụ được thực hiện tại phiên tòa: Thông bảo tòa khai mac ‘va bé mạc, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữtrật tự tại tòa. (2) Các nhiệm vụ được thực hiên bên ngoài phiên tòa. Tổng đạt giấy từ theo yêu cầu của Téa án, lập các Vi bằng theo quy định của pháp luật, phát mại động sin hay bat đông sin và trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Hiện nay, tại Việt Nam, Thừa phát lại sau một thời gian tén tại gián đoạn va thậm chi có thời gian có thể nói là biển mắt, Thừa phát lại bắt du được tai triển khai thực hiện theo tinh thân của chiến lược cai cách tư pháp Nghĩ quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính tri về một số nhiệm vụ.
trong tâm công tác tư pháp xác định: “Nghién cu việc xã hội hóa một số hoạt động bỗ trợ tư pháp” [10]. Chủ trương xã hội hóa một số hoạt đông bổ trợ tư pháp tiếp tục được chúng ta khẳng định trong Nghi quyết 49-NQ/TW của Bộ chính tì. “Tiờng bước thực hiện vide xã hội lóa và quy đình những hành thức, thai tục a8 giao cho tổ ciute Rhông phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” [14], ma cụ thể là “nghiên cứa chỗ ãinh Thừa phat lại: Trước mắt có thé tổ chức thi điểm tại một số địa phương. sau vài năm, trên cơ số đó, tông kết.
đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo” [14] Ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghỉ quyết số 24/2008/QH12 vẻ việc thi hành Luật thi hành án dân sự, trong đó, giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương [12]. Ngày 24/07/2009, Chính phi đã ban hành Nghị định. số 61/2009/NĐ-CP vé tổ chức và hoạt động cia Thừa phát lai thực hiện thí điểm tại thành phổ Hồ Chí Minh [9] Sau thời gian thí điểm tại thành phỏ Hỗ Chi Minh, với những thành công bước đầu, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị Quyết số 36/2012/QH13 giao cho Chính phủ tiếp tục triển khai việc thực hiện thi điểm. chế định Thừa phát lại tại 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung wong đến hết 31/12/2015 trong đó có thành phố Ha Nội.
Như vay, bước đâu hệ thông Thừa phat lai đã dẫn được hình thánh ỡ các tinh, thảnh phố trực thuộc Trung ương phan bỗ rai rác đều trên cả nước. Ngày 26/11/2015, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghĩ quyết số 107/2015/QH13 vẻ cho phép thực hiện chế định Thửa phát lại. Nghĩ quyết đã ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thi điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về việc thi hành Luật thi hành án dân sư, Nghỉ quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiệp tục thực hiện thi điểm chế đính Thừa phat lại, đồng thời, quyết định châm đứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thửa phat lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016 Nour vậy, nhìn chung có thể khái quát lại Thừa phát lại la người có các tiêu cimẫn theo quy định, có niu câu được bd nhiệm và được nhà nước bố. nhiệm qua đô nhà nước trao quyền dé làm các công việc nine: Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tỗ chức; Tổng đạt theo yêu cầu của Toa án hoặc Cơ quan tht hành án dân sạc.
Xúc minh điều kiên thi hành án theo yêu eda cũa đương suc Trực tiếp tỗ chức thi hành ám các bein ám, quyết dmh của Tòa án theo yên cầu của đương sie Qua những phân tích nêu trên, quan niêm vé Thừa phát lai di trong thời kỷ nao, cách hiểu như thé nao thi vẫn luôn có một sô đặc điểm nổi bật nhu sau: - Thừa phát lai không phải là công chức, không hưởng lương tử ngân. sách nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ. Khác với công chức tư pháp, thừa phát lại thực hiện một sé công việc theo yêu câu của Khách hang hoặc theo để nghị của Téa án trong phạm vi trách nhiệm được pháp luật quy định. Qua đó, Thừa phát lại hưởng phí địch vụ từ khách hàng khi cũng cấp dich vụ Thừa phát lại.
Ngoài ra, Thừa phát lại hoạt động thông qua Văn phòng Thừa phát lại không phải là cơ quan, đơn vị thuộc biên chế Nhà nước, nên các Thừa phát lại đều không phải là công chức. - Thừa phát lại không phải là chấp hành viên mặc đủ Thừa phat lại có quyền như Chap hành viên quy định tại Biéu 20 của Luật thi hành án Dân 10 sự, trừ khoản 9, khoăn 10 và t quyển xử phat vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Thửa phat lại chỉ thực hiện thẩm quyển của mình khi có yêu câu của khách bàng - Thừa phát lại không phải thư ký tòa. Việc thực hiên các công việc như "Tổng đạt văn bản của Thừa phát lai tương tu như Thư ky tòa nhưng Thừa phát lại không thuộc biên chế của Tòa án, không làm việc theo chi dao của Tòa án Thừa phat lại chi thực hiện các công việc luật định theo để nghĩ của Tòa va hưởng thù lao theo công việc đã lam.
Và tòa an lúc này trở thành khách hang của Thừa phát lại, thanh toán chỉ phí cho Thửa phát lại chứ không phải “sáp trên" và "trả lương “ cho Thừa phát lại - Thửa phát lại cũng không phải luật sự. Tuy Thừa phát lại hoạt đông trong các lĩnh vực liên quan đến pháp luật như Luật sw, cũng không thuộc biển chế của Nhà nước va được khách hang lựa chọn thường dựa trên sự tín nhiệm, đồng thời chịu trách nhiệm trước khách hang, hưởng thủ lao theo théa thuận tương tự như luật sư nhưng Thửa phát lại không tham gia tổ tung với tư cách la người bảo chữa. Thừa phát lại được trao một số “công qnyn” ma luật sư không được phép lâm. - Thừa phát lại không phải công chứng viên vì chức năng, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyên cia Thừa phát lại hoằn toàn khác với công chứng viên.
~ Thửa phát lại là người có các tiêu chuẩn nhất định theo quy định của. 'pháp luật, được Nha nước bổ nhiệm va qua đó trao quyển để thực hiện một số công việc, ~ Thừa phát lại là người được nha nước trao thẩm quyền thực hiện các công việc: (1) Tổng dat văn bản, giấy tử va thi hành án, (2) Lập vi bằng theo yêu cầu cia cả nhân, cơ quan, tổ chức; (3) Xác minh điều kiên thi hanh án. theo yêu cau của đương sự. (4) Trực tiếp tổ chức thi hảnh án các bản án, quyết định của Tòa án, lì - Thửa phát lại phải hoạt động tuân theo những nguyên tắc, quy chế va đạo đức nghề nghiệp ma pháp luật quy định.