Chương 1: Đặc điểm, vai trò của tín dụng ngân hàng cấp cho người nghèo Chương 2: Thực trạng tín dụng ngân hàng cấp cho người nghèo trên địa bàn Thành phố Hà Nội Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cấp cho người nghèo trên địa bàn Thành phố Hà Nội 15 z CHƢƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CẤP CHO NGƢỜI NGHÈO 1.1 Đặc điểm tín dụng cấp cho ngƣời nghèo 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Hiện nay, tín dụng ngân hàng còn được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong luận văn này, tín dụng ngân hàng được hiểu là: “Một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao một lượng giá trị dưới hình thái tiền hay tài sản cho khách hàng trong một thời gian nhất định và khi đáo hạn phải hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả, nó có ba đặc trưng sau: Một là, đối tượng giao dịch là một lượng giá trị dưới hình thái tiền hoặc tài sản. Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bằng tài sản).
Tín dụng cổ điển chỉ thực hiện cho vay bằng tiền. Với sự phát triển của thị trường tài chính từ những năm 1970 trở lại đây, các định chế tài chính, ngân hàng đã phát triển một hình thức cung cấp tín dụng mới cho khách hàng, đó là dịch vụ cho thuê tài chính. Đây là một sản phẩm của kinh doanh ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc, máy móc thiết bị…). 16 z Hai là, bên vay được quyền sử dụng tài sản trong một thời hạn đã thoả thuận.
Trong quan hệ tín dụng, người đi vay không có quyền sở hữu, chỉ được chuyển giao quyền sử dụng tài sản. Quan hệ tín dụng xuất phát trên nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho người đi vay vẫn giữ quyền sở hữu và phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức quan trọng trong quan hệ tín dụng, nó là cơ sở quyết định có cho vay hay không. Ba là, khi đáo hạn phải hoàn trả cả gốc và lãi.
Giá trị hoàn lại trong quan hệ tín dụng thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, vì người đi vay phải trả thêm lợi tức ngoài phần gốc. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về mặt pháp lí nó được thể hiện trên các văn bản như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là kì phiếu (promissory note) trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận.
Tín dụng được cấu thành từ sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng, sự hứa hẹn hoàn trả.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng cấp cho ngƣời nghèo Ngoài các đặc điểm nói trên, tín dụng ngân hàng cấp cho hộ nghèo có những đặc điểm riêng sau đây: 17 z 1.1 Mục tiêu của tín dụng cấp cho người nghèo không phải là thu lợi nhuận mà nhằm xoá đói giảm nghèo, nhưng vẫn phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí, an toàn và phát triển vốn vay. Khác với tín dụng thương mại, mục tiêu của tín dụng cấp cho hộ nghèo không phải là thu lợi nhuận mà nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo. Song để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, nguồn thu từ hoạt động tín dụng phải đảm bảo đủ chi phí và bảo tồn, phát triển nguồn vốn cho vay. Thông qua tín dụng ngân hàng, cung cấp vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đây là những đối tượng không có điều kiện tiếp cận tín dụng thương mại, để họ phát triển sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm, tăng thu nhập, từng bước thoát khỏi đói nghèo.
Lãi suất cho vay có thể ưu đãi thấp hơn lãi suất thương mại song phải cao hơn lãi suất nhận gửi, đảm bảo hoà vốn, đủ bù đắp chi phí và phòng chống rủi ro.2 Đối tượng vay vốn là hộ nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác. Đối tượng vay vốn là hộ nghèo: Hộ nghèo là hộ nằm trong danh sách điều tra theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội công bố từng thời kì. Chuẩn nghèo ban hành năm 2005 là thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000 đồng/hộ đối với khu vực nông thôn và dưới 260.000 đồng đối với khu vực đô thị. Mặc dù chuẩn nghèo rất thấp, song theo thống kê số hộ nghèo trên cả nước năm 2005 chiếm khoảng 22% với trên 4,5 triệu hộ.
Người nghèo thường thiếu nguồn lực để sản xuất, không có việc làm. Người nghèo không có khả năng tiết kiệm để tạo vốn sản xuất, kinh doanh. 18 z Nguồn lực cơ bản là sức lao động thường có trình độ, tay nghề thấp nên khó kiếm những công việc có thu nhập cao và ổn định. Phương thức tổ chức sản xuất của người nghèo phần lớn dựa vào lao động thủ công lạc hậu, ít có khả năng tiếp cận công nghệ sản xuất mới, mang nặng tính tự cung tự cấp, kém sức cạnh tranh trên thị trường, lợi nhuận thấp.
Do nguồn lực hạn chế nên hộ nghèo không đủ khả năng chống chọi lại với thiên tai, dịch bệnh và các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, chỉ một thiên tai hay rủi ro nhỏ cũng có thể đẩy họ lún sâu vào nghèo đói. Bệnh tật cũng làm tăng gắnh nặng chi tiêu cho hộ nghèo, đẩy họ vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Bởi vậy, giúp họ tiếp cận các dịch vụ phòng bệnh như dùng nước sạch, các chương trình chăm sóc y tế … cũng là một nhiệm vụ của NHCSXH. Hộ nghèo có rất ít cơ hội tiếp cận các nguồn vốn tín dụng thương mại do không có tài sản thế chấp, không có phương án sản xuất, kinh doanh bài bản.
Thiếu vốn là một nguyên nhân quan trọng làm cho họ không mở rộng được sản xuất, không áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm gia tăng sức cạnh tranh của sản phẩm… nên họ càng ngày càng nghèo hơn. Không phải tất cả các hộ nghèo đều là đối tượng được vay vốn, chỉ những hộ có sức lao động, có điều kiện sản xuất, kinh doanh song thiếu vốn; những hộ gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh… có điều kiện phục hồi sản xuất mới được xem xét cho vay để tổ chức sản xuất, tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, từng bước vươn lên thoát nghèo. Những hộ thuộc diện nghèo do neo đơn, không nơi nương tựa; không có sức lao động; lười biếng; phạm các tệ nạn xã hội thì thuộc diện đối tượng trợ cấp xã hội, cải tạo xã hội … đều không thuộc đối tượng được vay vốn. 19 z Các đối tượng chính sách khác: đối tượng chính sách được cấp tín dụng ưu đãi phụ thuộc vào chính sách xã hội của nhà nước trong từng thời kì khác nhau và khả năng của ngân sách.
Hiện nay, các đối tượng chính sách được cấp tín dụng là: học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; các đối tượng cần hỗ trợ giải quyết việc làm; những người đi xuất khẩu lao động thuộc diện hộ nghèo; đối tượng của chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường; doanh nhiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; đồng bào dân tộc ít người; đối tượng sau cai nghiện; đồng bào định canh định cư; hộ nông dân vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long… NHCSXH phải kiên trì thực hiện mục tiêu chỉ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách, nếu giao dịch đồng thời với cả người nghèo và không nghèo, thì cuối cùng sẽ hướng vào phục vụ những người không nghèo. Trên cơ sở đối tượng phục vụ đó sẽ thiết lập được quy trình, thủ tục cho vay, thu nợ thích hợp.3 Nguồn vốn huy động để cho vay Không giống như tín dụng thương mại, tín dụng cấp cho hộ nghèo được ưu đãi về lãi suất, kì hạn cho vay dài (thường là vay trung hạn) nên nguồn vốn cho vay phải đa dạng, có tính ổn định cao, lãi suất thấp hoặc không lãi suất. Theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác quy định các nguồn vốn NHCSXH Việt Nam được huy động để thực hiện cho vay bao gồm: Một là, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (NSNN): vốn điều lệ được NSNN cấp khi thành lập, vốn cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thực hiện các chính sách xã hội khác có nguồn gốc từ NSNN, vốn do ngân sách các 20 z cấp chính quyền địa phương chuyển sang để cho vay hộ nghèo trên địa bàn, vốn ODA do chính phủ giao. Nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách năm 2007 là 13.506 tỉ đồng, chiếm 29,8% tổng nguồn vốn của NHCSXH Việt Nam.
Đây là một nguồn vốn ổn định, dài hạn và không chịu tác động thay đổi của thị trường lãi suất. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là một đặc điểm riêng có ở Việt Nam, xuất phát từ sự quan tâm đặc biệt của chính phủ đối với công cuộc xoá đói, giảm nghèo. Hai là, vốn huy động: - Tiền gửi có trả lãi của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi kế hoạch được chính phủ giao. Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch tăng trưởng tín dụng được chính phủ phê duyệt, NHCSXH cân đối nguồn vốn hiện có, chủ động xây dựng kế hoạch nhận tiền gửi để đủ vốn thực hiện nhiệm vụ tăng trưởng tín dụng.
Đây là nguồn vốn phải trả theo lãi suất thị trường, được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất, tính ổn định không cao, nhạy cảm với lãi suất. Đến 31/12/2007, vốn tiền gửi tại NHCSXH Việt Nam là 3.800 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 8,4% tổng nguồn vốn. Chiến lược lâu dài cần phải giảm đến mức thấp nhất nguồn vốn huy động loại này. - 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng tại thời điểm 31/12 năm trước.