phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận án gồm 3 chương được bố cục như sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương này, luận án trình bày tình hình nghiên cứu về thuật ngữ, thuật ngữ mỏ và địa chất trên thế giới và Việt Nam; hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu hệ thống thuật ngữ mỏ và địa chất tiếng Việt. Đặc điểm cấu tạo và phương thức tạo thành thuật ngữ mỏ và địa chất tiếng Việt Từ việc xác định yếu tố cấu tạo thuật ngữ, chương này luận tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mỏ và địa chất thông qua phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp, từ loại, nguồn gốc cấu tạo và mô hình cấu tạo của chúng. Từ đó rút ra những nhận xét chung về đặc điểm của hệ thuật ngữ này.
Cũng trong chương này luận án còn tìm hiểu thuật ngữ mỏ - địa chất được hình thành nên theo những phương thức nào. Đặc điểm ngữ nghĩa - định danh thuật ngữ mỏ và địa chất tiếng Việt Trên cơ sở lý thuyết định danh, chương 3 này luận án tập trung phân tích và làm sáng tỏ các đặc điểm ngữ nghĩa - định danh của hệ thuật ngữ mỏ và địa chất trên các phương diện: các phạm trù ngữ nghĩa, các mô hình định danh và các đặc trưng được chọn để định danh. 6 luan an CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ 1. Các nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài Trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ, thuật ngữ được xem là bộ phận ngôn ngữ phát triển nhất so với các bộ phận khác, đặc biệt trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì thuật ngữ lại càng có điều kiện phát triển. Sự ra đời và phát triển của thuật ngữ gắn liền với sự ra đời và phát triển của khoa học kỹ thuật. Khoa học kỹ thuật chính là điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của thuật ngữ.
Do đó, trên thế giới, thuật ngữ xuất hiện từ khá sớm, bởi khoa học kỹ thuật ở trên thế giới đã có lịch sử xuất hiện cách đây hàng vài thế kỷ, đồng thời thuật ngữ sau đó cũng nhanh chóng trở thành đối tượng nghiên cứu, thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu. Ngay từ thế kỷ XVIII, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về thuật ngữ của một số tác giả như: Carl von Linné (1736); Beckmann (1780); A. Các nghiên cứu thời kỳ đầu này thường tập trung vào vấn đề tạo lập, xây dựng thuật ngữ và bước đầu xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ cụ thể. Mặc dù việc nghiên cứu về thuật ngữ giai đoạn này mới chỉ mang tính chất sơ khai và khoa học nghiên cứu về thuật ngữ chưa được định hình rõ, nhưng những kết quả nghiên cứu này được coi là nền tảng cho sự phát triển của ngành khoa học thuật ngữ trên thế giới [Dẫn theo 22, tr.
Bắt đầu từ thế kỷ XX, việc nghiên cứu về thuật ngữ mới có bước phát triển rõ nét và hình thành khoa học nghiên cứu về thuật ngữ. Từ những năm 1930 của thế kỷ XX, nghiên cứu về thuật ngữ đã trở thành một vấn đề được 7 luan an quan tâm đặc biệt ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Đức, Áo, Tiệp Khắc và Nga - Xô Viết. Một số nhà nghiên cứu ở các quốc gia này đã có những đóng góp quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu thuật ngữ. Toàn bộ quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong hơn một thế kỷ qua đã được Auger (1998) tổng kết thành ba xu hướng nghiên cứu chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ [Dẫn theo 116, tr.
Sau đây, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ bởi vì hướng nghiên cứu này quan trực tiếp đến đề tài luận án. Khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ là nói tới ba cái nôi tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới đó là: Áo, Xô Viết và Cộng hòa Séc. (i) Nghiên cứu thuật ngữ của Áo Tiêu biểu cho trường phái này là E. Wuster (1898 - 1977), ông được coi là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thuật ngữ hiện đại.
Wuster cũng là người có tầm ảnh hưởng rất lớn đến các nghiên cứu của các học giả sau này. Nghiên cứu nổi bật của Wuster đóng góp vào công tác nghiên cứu thuật ngữ là tác phẩm “Lý luận chung về thuật ngữ” (1931). Trong công trình nghiên cứu này, Wuster đã dành sự quan tâm của mình cho hệ thống tên gọi của lĩnh vực kỹ thuật và lần lượt đi sâu phân tích các khía cạnh ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ. Đặc biệt, dựa trên các nhận định, phân tích và hệ thống hoá, Wuster đã xác lập được hệ thống các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ và đề ra một số nguyên tắc xây dựng thuật ngữ, đồng thời ông cũng đưa ra các phương pháp xử lý ngữ liệu thuật ngữ.
Công trình nghiên cứu này của Wuster được đánh giá như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng. 8 luan an Điểm đáng chú ý nhất trong nghiên cứu của Wuster và trường phái này là đi sâu vào bản chất của thuật ngữ, họ tập trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa các thuật ngữ và các khái niệm. Những kết quả nghiên cứu về thuật ngữ của trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống lý luận gồm: các nguyên tắc, các phương pháp tạo nền tảng cơ sở cho nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thuật ngữ. Việc nghiên cứu của trường phái này nhằm phục vụ cho việc chuẩn hóa thuật ngữ, đáp ứng nhu cầu của các nhà khoa học, các nhà kỹ thuật trong trong việc đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và truyền tải kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên môn.
Các nguyên tắc nghiên cứu của trường phái này còn ảnh hưởng tích cực đến rất nhiều các nhà nghiên cứu ở các nước vùng Trung và Bắc Âu như: Đức, Na Uy, Thuỵ Sĩ, Đan Mạch. (ii) Nghiên cứu thuật ngữ của Séc Tiêu biểu cho trường phái này L.Drodz, người khởi xướng và phát triển cho việc nghiên cứu thuật ngữ ở Séc theo cách tiếp cận ngôn ngữ học chức năng. Mối quan tâm lớn nhất của trường phái này cũng là chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ. Vì vậy, các nghiên cứu của họ thường đi sâu vào miêu tả cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng nhất.
Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này được coi là mang văn phong khoa học tồn tại cùng những văn phong khác như chính luận, hội thoại. Họ xem thuật ngữ như những đơn vị tạo nên văn phong khoa học mang tính chức năng. Nó ra đời do kết quả của bản chất đa ngôn ngữ trong khu vực địa lý của nó. (iii) Nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết Ngay từ thời kỳ đầu, chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của Wuster (Áo), trường phái Nga - Xô Viết cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm.
Đặc biệt, sau khi luận án của Wuster được dịch sang tiếng Nga, việc nghiên cứu thuật ngữ lại càng phát 9 luan an triển. Có thể nói, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô từ những những năm 1930 trở đi thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu to lớn với sự xuất hiện của hàng chục sách chuyên khảo, giáo trình, giáo khoa, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ học của các tác giả người Nga được dịch và xuất bản ở nước ngoài. Bên cạnh đó là hàng nghìn bài báo, hàng nghìn cuốn từ điển được công bố, xuất bản. Nhiều hội nghị, hội thảo thường xuyên được tổ chức để thảo luận, bàn về những vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu và những hoạt động thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ [Dẫn theo 65, tr.
Đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết là Lotte (1898-1950). Với công trình nghiên cứu Những vấn đề gây bức xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kỹ thuật. Lotte được coi là người đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Nga, tạo ra nền móng về mặt lý thuyết và phương pháp cho công tác thuật ngữ của Xô Viết. Kulebakin (1993) đã nhận xét rằng mặc dù Lotte không phải là người duy nhất nhưng lại là người để lại ảnh hưởng cho công tác phát triển thuật ngữ về mặt lý thuyết.
Lotte đã tạo ra nền móng về mặt lý thuyết và phương pháp cho công tác thuật ngữ của Xô Viết.129), đã tóm tắt quan điểm của Lotte như sau: “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kỹ thuật nào đó. Hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm”. Một ý tưởng được coi là trùng hợp hoàn toàn với quan điểm của Wuster [Dẫn theo 22, tr. Công tác phát triển thuật ngữ của Nga - Xô Viết còn thu hút được đông đảo các nhà ngôn ngữ học vào công tác nghiên cứu cơ bản về thuật ngữ từ rất sớm, như: A.Vinokur,… Có thể nói, các trường phái trên đều có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, xem thuật ngữ như là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp.
Từ đó họ đã hình thành cơ sở lý thuyết về thuật ngữ và 10 luan an những nguyên lý mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của nó. Ngoài ra, các trường phái này đều có sự ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển những hướng nghiên cứu thuật ngữ sau này đó là thuật ngữ được nghiên cứu theo hướng dịch và kế hoạch hóa ngôn ngữ. Các nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo tổng kết của một số nhà nghiên cứu [Lưu Vân Lăng - Nguyễn Như Ý, 1971, Hà Quang Năng 2009, Nguyễn Đức Tồn, 2010,…] thuật ngữ ra đời khá muộn, phải đến đầu thế kỷ XX thuật ngữ ở Việt Nam mới lẻ tẻ xuất hiện.