Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Văn hóa doanh nghiệp là gì? 111. Khái niệm “văn hoa” Văn hóa là sản phẩm của con người, là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của mỗi quốc gia dân tộc. Văn hóa được đúc rút từ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người, nó làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
Nhận thức rõ vai trò của văn hóa, từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, Đảng ta luôn khăng định vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng. Vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác, trên cơ sở phân tích sâu sắc, hệ thống, khái quát những vấn đề cơ bản của văn hóa Việt Nam, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã biên soạn Đề cương về văn hóa Việt Nam vào năm 1943 [33]. Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ké từ khi ra đời cho đến nay, văn kiện này vẫn giữ nguyên giá trị là bản tuyên ngôn, là cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó có quan điểm về vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, đã được Dang ta tiếp tục kế thừa, bổ sung trong giai đoạn đổi mới dat nước.
Đến nay, vẫn có nhiều khái niệm khác nhau khi đưa ra quan điểm về văn hóa. Văn hóa là tổng thé nói chung những giá trị vật chat và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [36, tr. 1360]; là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [28, tr.25]; bao gồm toàn bộ các sản pham của trí tuệ và tinh thần của con người trong hoạt động mưu sinh [12]. Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sông, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn 12 ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [19]. UNESCO cũng định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin [23, tr. Như vậy, có thé thấy rat rõ rang, văn hóa là toàn bộ những giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra từ trong hoạt động sống của con người, đáp ứng nhu cau tồn tại và phát triển của con người.
Văn hóa gắn với các cộng đồng người; văn hóa thuộc về các cộng đồng người; văn hóa mang tính cộng đồng. Các yếu t6 cầu thành văn hóa Theo GS Trần Ngoc Thêm (1999): “Vi trí cua một nền văn hoá trong xã hội phải được xác định bởi một hệ toạ độ ba chiều: thời gian văn hoá, không gian văn hoá và chủ thé văn hoá” [25, tr. Như vậy, có thé hiểu rằng có 3 yếu tố cầu thành nên một nền văn hóa, đó là thời gian văn hoá, không gian văn hoá và chủ thé văn hoá. Còn theo cách tiếp cận phố biến trong nghiên cứu và quản tri kinh doanh, có 8 yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa: ngôn ngữ; tôn giáo và tín ngưỡng; giá trỊ và thái độ; các phong tục tập quán; thói quen và cách ứng xử; thâm mỹ: giáo dục; văn hóa kết tinh trong các của cải vật chất.
Thứ nhất là ngôn ngữ: Ngôn ngữ là sự thê hiện rõ nét nhất của văn hóa vì nó là phương tiện để truyền đạt thông tin và ý tưởng. Nếu thông thạo ngôn ngữ, có 4 lợi ích: Trao đôi trực tiép và hiéu rõ rang; Dê làm việc với đôi tác vì 13 chung ngôn ngữ; Hiểu và đánh giá đúng bản chất và hiểu, thích nghi với văn hóa đối tác. Ngược lại sẽ rất khó khăn khi tham gia thị trường nước ngoài [15, tr. Thứ hai là ton giáo va tin ngưỡng: Cac tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến lối sống, niềm tin, giá trị và thái độ, cách ứng xử của con người.
Các tôn giáo còn ảnh hưởng đến chính trị và môi trường kinh doanh. Các tôn giáo khác nhau, được xây dựng trên nén tảng triết lý khác nhau. Khi kinh doanh tai đâu, cần nghiên cứu tôn giáo ở đó cũng như đối tác kinh doanh theo tôn giáo nào [15, tr. Thứ ba là giá trị và thái độ: Giá trị là những quan niệm làm căn cứ để con người đánh giá đúng sai, tốt xấu, quan trọng và không quan trọng; Thái độ là những khuynh hướng không thay đổi của sự cảm nhận hành xử theo một hướng xác định đối với một đối tượng.
Thái độ bắt nguồn từ những giá trị và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của con người đặc biệt là kinh doanh quốc tế [15, tr. Thứ tư là các phong tục tập quán: phong tục tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ôn định của các thành viên trong nhóm xã hội được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Phong tục tập quán thể hiện cách sự vật được làm, còn cách cư xử được dùng dé thực hiện chúng. Mỗi quốc gia, vùng miền đều có phong tục riêng vì vậy nghiên cứu van dé này thì công việc trôi chảy, thuận lợi và ngược lại [15, tr.
Thứ năm là /hói quen và cách ứng xử: thói quen là những hành động, nếp sống, phương pháp làm việc. được lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống, không dễ thay déi trong một thời gian dài; Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn, phù hợp với một xã hội đặc thù. Ở nhiều nước trên thế giới, thói quen và cách ứng xử hoàn toàn khác nhau, vì vậy nghiên cứu vấn đề này sẽ khiến công việc trôi chảy, thuận lợi hơn [15, tr. Thứ sáu là tham mỹ: Tham mỹ là sự hiểu biết và thưởng thức cái đẹp.
14 Nó ảnh hưởng giá trị, thái độ của con người ở mỗi quốc gia khác nhau. Văn hóa thẩm mỹ quyết định cách nhìn nhận về cái đẹp, ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm về giá trị đạo đức, chuẩn mực hành vi của các nhà kinh doanh. Thứ bảy là giáo dục: Giáo dục là quá trình hoạt động ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tri thức về tự nhiên và xã hội, cũng như kỹ năng kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống. Giáo dục là yếu tố quan trong dé hiểu văn hóa.
Trình độ giáo dục cao thường dẫn đến năng suất cao và tiễn bộ kỹ thuật [15, tr. Thứ tám là văn hóa kết tỉnh trong các của cải vật chất. Vật chất là những gi con người có thê nhận biết: có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra. Khi nghiên cứu văn hóa vật chất, cần nghiên cứu cách làm ra sản vật (khía cạnh kỹ thuật) và ai làm, tại sao làm (khía cạnh kinh tế).
Khi đánh giá yếu tố của nền văn hóa, cần đánh giá cơ sở hạ tầng kinh tế; cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng tài chính [15, tr. Văn hóa doanh nghiệp Trước hết, để hiểu được khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp” chúng ta cần hiểu được “Doanh nghiệp” là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt, doanh nghiệp la “đơn vị hoạt động kinh doanh” [36, tr. Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, “doanh nghiệp là tô chức có tên riêng, có tài sản, có trụ Sở giao dịch, được thành lập hoặc dang ky thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [31]. Khai niém “van hoa doanh nghiép”, ngay nay da tro thanh mot khai niệm hết sức quen thuộc và gần gũi với mọi người.
Ở mỗi một nền văn hóa, với nền tảng kiến thức khác nhau sẽ có một góc nhìn khác biệt về khái niệm này. Không chỉ ở mỗi một quốc gia, mà ở mỗi một doanh nghiệp đều có cách nhìn, tiếp nhận và thực thi khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. 15 Hiện có đến trên 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Các khái niệm chủ yếu xoay quanh: Văn hoá doanh nghiệp là văn hóa thê hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài (Kotter, J.); là niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phô biến và tương đối ồn định trong doanh nghiệp” (Williams, A.
Như vậy, dù được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng có thé hiểu văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ giá trị văn hoá được gây dựng trong suốt quá trình hình thành và phát triển của một doanh nghiệp, từ đó trở thành quy tắc, tập quán quen thuộc ăn sâu vào mọi hoạt động của doanh nghiệp đồng thời chi phối tinh cảm, cách suy nghĩ và hành vi ứng xử của mọi thành 16 viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích. Văn hoá doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt của một doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác. Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, trong luận văn của mình, tác giả sử dụng quan điểm chia văn hóa doanh nghiệp thành các cấp độ khác nhau. Cấp độ dùng dé chỉ mức độ có thé cảm nhận được của các giá tri văn hoá doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá trị văn hoá đó.
Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá, giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cau thành của nền văn hoá đó [15, tr. Theo Edgar Henry Schein - cựu Giáo sư Trường Quản lý MIT Sloan - một người cực kỳ chuyên sâu trong lĩnh vực phát triển tổ chức và văn hóa doanh nghiệp, các cấp độ của văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành ba cấp khác nhau. Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình.