Chương 1 KHÁI QUÁT VÀ SỰ ẢNH HƯỚNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI NGƯỜI KHMER TỈNH KIÊN GIANG 1. Sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Kiên Giang Phật giáo Nam tông được truyền vào các nước Đông Nam A như: Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia va miền Nam Việt Nam (vùng đất Phù Nam ngày xưa) bằng hai con đường: đường thủy thông qua việc buôn bán với thương gia An Độ và đường bộ qua sự giao lưu văn hóa với các nước phát triển. Phật giáo Nam tông đến với Việt Nam thông qua con đường hòa bình. Mặt khác, giáo lý của Phật giáo chuyền tải tư tưởng bình đăng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn.
gần gũi với tôn giáo văn hóa Việt Nam, nên được người Khmer ở Nam Bộ tìm hiểu, nghiên cứu và dễ chấp nhận. Việc Phật giáo truyền vào các nước Đông Nam Á, trong đó có vùng đồng bào dân tộc Khmer được đảm nhiệm bởi hai vi cao tăng thuộc hệ phái Đại bộ (Mahanikaya) là Sônathê (Sonatthera) và Utarathé (Uttaratthera). Khi đó, Phật giáo Nam tông đã được toàn thê đồng bào Khmer đón nhận một cách nhiệt tình và đầy tôn kính. Trãi dài trên đất nước Việt Nam, Phật giáo Nam tông Khmer có 464 ngôi chùa.
Tính đến năm 2019, Nam tông Khmer ở Kiên Giang có 76 chùa (trong đó có 3 chùa và 1 tháp di tích văn hóa cấp quốc gia, 2 chùa di tích cấp tỉnh, 1 chùa Nam tông của người Kinh), có 205.945 tín đồ Phật tử (chiếm 12,11% dân số toàn tỉnh,có 2 tô chức cấp tỉnh (Ban Tri sự GHPGVN tỉnh và Hội DKSSYN tỉnh); 14 tô chức cấp huyện; 8 tổ chức cấp đại diện, liên hiệp không phải là cấp giáo hội; 385 tô chức tôn giáo trực thuộc (cấp cơ sở), 4l tô chức tôn giáo trực thuộc dưới cơ sở. 16 toàn tinh và chiếm 34,80% tín đồ các tôn giáo), 255 vi chức sắc, 310 nhà tu hành (bậc sa di); 1.358 chức việc trong ban quản trị [4, 2]. Những thành quả đó là do sự tình nguyện chấp nhận giáo thuyết của đức Phật. Vì người Khmer cho rằng Phật giáo Nam tông có những điểm phù hợp với đạo đức, tâm lý của đồng bào, gần gui với cuộc sống, dễ thực hành nên Phật giáo Nam tông Khmer Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Kiên Giang nói riêng được giữ gìn và bảo tồn đến ngày nay.
Chăng những vậy, mái chùa còn là nơi giảng dạy cho con em đồng bào dân tộc Khmer dé phát triển nhân tài, là trung tâm t6 chức sinh hoạt cộng đồng người dân tộc Khmer, nơi gửi xương cốt ân nhân đã quá vãng của đồng bào dân tộc Khmer, trong kháng chiến còn là nơi nuôi chứa các đồng chí hoạt động cho cách mang,v. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tỉnh Kiên Giang là tổ chức quần chúng xã hội của giới sư sãi và đồng bào Phật tử yêu nước, được thành lập ngày 28/8/1968 tại chùa Xẻo Cạn, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay là huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang), là thành viên của Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Rạch Giá, nay là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Kiên Giang. Trong suốt quá trình hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng và Ban Khmer vận tỉnh (trước đây), Hội đã vận động tập hợp đoàn kết giới sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer là Phật tử hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, không ngừng phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, góp phần cùng với Đảng, quân và nhân dân tỉnh nhà dau tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đó, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tỉnh Kiên Giang ngày nay không ngừng được củng có kiện toàn về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu và sự phát triển của đất nước trong tình hình mới, nhằm vận động đồng bào và sư sãi hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer đây mạnh các phong trào thi đua yêu nước, chăm lo, 10 bảo vệ tốt quyền lợi và lợi ích hợp pháp của sư sai và đồng bao dân tộc Khmer.
Vai trò của Phật giáo Nam tông đối với người Khmer Kiên Giang Thời kỳ kháng chién Phật giáo Nam tông Khmer đóng vai trò tích cực trong sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, luôn sát cánh cùng cộng đồng các tôn giáo, dân tộc trên địa bàn, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Trong suốt hai thời kỳ chống thực dân Pháp và dé quốc Mỹ. Luôn thé hiện vai trò của mình trong đời sống bình đăng về tôn giáo, chống lại âm mưu lợi dụng dân tộc Khmer dé chống phá cách mạng. Bên cạnh đó, chùa là nơi để nhân dân và người Khmer lánh nạn và dùng làm căn cứ kháng chiến.
Sau năm 1954, Mỹ can thiệp vào Việt Nam, cùng với chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách lấy Công giáo đề đồng hóa tôn giáo. Đặc biệt với người Khmer tại Kiên Giang, chúng tạo dựng mâu thuẫn, kích động tư tưởng hẹp hòi, chia rẽ dân tộc, bài xích Phật giáo Nam tông Khmer, cam dạy chữ Pali và chữ Khmer trong chùa. Vừa đàn áp cấm đoán, vừa dụ dỗ mua chuộc băng tiền bạc, cách ly sư sãi và Phật tử Khmer với cách mạng [10, 61-68]. Vào ngày 28/8/1968, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước được thành lập.
Ngày 10/6/1974, sư sãi và Phật tử Khmer của 72 ngôi chùa Nam tông Khmer trong tỉnh, trong đó có huyện Châu Thành đã xuống đường biểu tình, chống lại việc bắt sư sãi đi lính. Bốn vị sư đã hy sinh trong cuộc biểu tình này, dé người Khmer Kiên Giang cũng như huyện Châu Thành lay đó làm niềm tự hao, tự tôn dân tộc. Thời kỳ thong nhất đất nước và đổi mới Phật giáo Nam tông Khmer Kiên Giang luôn đồng hành cùng Phật tử, hưởng ứng và đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức của Phật tử, thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính 11 sách pháp luật của Nhà nước, tích cực lao động, học tập nâng cao đời sông vật chat lẫn tinh than, góp phan cùng chính quyền địa phương quản lý chùa chién, sư sãi, Phật tử, tổ chức các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Các vị sư cùng đồng bào Phật tử Khmer đã tham gia các cấp chính quyền, Ủy Ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thé chính trị-xã hội, phát huy vai trò cầu nối thực hiện tốt đời, đẹp đạo.
Đặc biệt là tham gia vào Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp xã, huyện, tỉnh. Và đặc biệt, vai trò xuyên suốt của Phật giáo Nam tông đối với người Khmer ở mọi thời kỳ, trở thành hệ giá trị tinh thần không thê thiếu để họ dựa vào trong quá trình tồn tại và phát triển. Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đối với đời sống văn hóa tỉnh thần đồng bào dân tộc Khmer và giới trẻ Khmer Kiên Giang Anh hướng đến tín ngưỡng Tuy răng tất cả người dân tộc Khmer đều theo đạo Phật chủ trương thân khẩu ý ta hành thì thân khẩu ý ta thọ (trong Phật giáo chỉ ra bốn thứ đức tin (saddha) đúng đắn: 1) Tin vào nghiệp hành của mình - Kammassaddha; 2) Tin vào nghiệp hành chắc chăn có quả - Vipakassaddha; 3) Tin vào tat cả chúng sinh phải hành nghiệp - Kammassakata saddha; 4) Tin vào trí huệ của đức Phật không gì sánh bằng - Tathagata Bodhissaddha), không có trời than, ma quỷ nào độ ta được hết nhưng Phật giáo không cấm cản họ duy trì truyền thống tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Bà-la-môn giáo của họ. mà chỉ đơn giản hóa những tín ngưỡng ấy đi đừng cho quá ảnh hưởng đến cuộc sống nhân sinh.Người Khmer hau hết làm nông nghiệp, phát triển trồng trọt va chăn nuôi, một số ít làm nghề buôn bán, nên trong quan niệm dân gian nước, gió, lửa, trời, đất, Mặt trời, Mặt trăng.
là những sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống tâm linh của họ và có năng lực huyền bí: mưa có thuận, gió có hòa hay không hoàn toàn lệ thuộc vào các lực lượng này. Cuộc sống có yên 12 ồn hay không phải do các vị thần đó là Arak (thần bảo hộ dòng họ), Neak ta (thần bảo hộ, Ông tà), Têvada (Devatã - các thiên thần chăm sóc thế gian). Hang năm, người Khmer tại Kiên Giang tô chức các nghỉ lễ dé cầu khan các vị thần này ban cho cuộc sống gia đình bình an, hạnh phúc, mưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt. Các lễ hội tôn giáo, lễ hội dân tộc tại tỉnh Kiên Giang cũng diễn ra nhiều nhất trong thời gian này.
Tôn giáo sơ khai ban đầu của người Khmer là Bà-la-môn giáo (Brahmañña Sasana), sau đó Phat giáo Nam tông đã thay thế và trở thành tôn giáo dân tộc của người Khmer. Cả hai tôn giáo này, đặc biệt là Phật giáo Nam tông, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tín ngưỡng dân gian của người Khmer. Tín ngưỡng dân gian được hình thành trong quá trình sinh sống và phát triển lâu đời của người Khmer, nhưng hầu như các tín ngưỡng dân gian này đều mang triết lý nhân sinh của Phật giáo. Hầu hết trong các nghi thức hành lễ của tín ngưỡng dân gian đều có sư sãi tham gia hành lễ, tụng niệm kinh Phật hoặc chứng kiến.
Vai trò của sư sãi luôn ở vị trí quan trọng và đứng đầu trong các hoạt động, từ nội dung đến phân công thực hiện, và tất cả những người tham gia đều tuân theo ý kiến của các nhà sư. Anh hưởng đến giá trị và bản sắc văn hóa Ph.tat cả tôn giáo chăng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [59, 329]. Tôn giáo là sản phâm của con người, tôn giáo là một trong các lĩnh vực của văn hóa. Tôn giáo và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình hình thành và phát triển.