CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.Khái quát chung về văn học thiếu nhi 1. Khái niệm văn học thiếu nhi Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi “Theo nghĩa hẹp, gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi” [4; trang 353]. Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam quan niệm văn học thiếu nhi tường tận hơn, chi tiết hơn. Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ: chủ thể sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận… Cụ thể: - Mọi tác phẩm được sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi.
Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và đôi khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi. - Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong đó cách nghĩ cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách nghĩ cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích…trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình. Như vậy, “Văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế giới tự nhiên…nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm hồn trẻ.
Vai trò và ý nghĩa của văn học thiếu nhi Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người ngay từ thuở ấu thơ, là hành trang cho mỗi người trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì đã lưu giữ được trong thời niên thiếu thường rất khó phai mờ. Văn học không chỉ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp cái hay, mà còn giúp cho trẻ phát triển trí tuệ, mở rộng sự hiểu biết và hướng tới một lối sống giàu lòng nhân ái. Không phải ngẫu nhiên mà người ta khẳng định tính giáo dục là tính chất sống còn của một tác phẩm văn học thiếu nhi. Như nhà văn Tô Hoài, người dành nhiều tâm huyết cho nền văn học thiếu nhi đã khẳng định “…Một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy” [6; trang 263, 264].
Bài học mà các em học được là: đoàn kết sẽ đem lại sức mạnh to lớn cũng như để có được mùa xuân đầy đủ hương sắc các con vật phải biết “góp chung màu lại” (Phải chung màu lại – Võ Quảng); “hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ những cử chỉ ngu dại của mình thôi” (Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài) hay chớ nên bội bạc, tráo trở như tên Lý Thông (Thạch Sanh – truyện cổ tích),… Đọc các tác phẩm văn học thiếu nhi, chắc hẳn các bạn nhỏ không khỏi cảm động trước tình bạn sắc son giữa Kay và Garda (Bà chúa Tuyết – Andersen), tình yêu thương vô bờ mà người mẹ dành cho đứa con bị thần Chết bắt đi (Người mẹ - Andersen),… Mỗi tác phẩm là một công trình sư phạm, mà các nhà sư phạm ở đây chính là các tác giả dày công xây dựng. Không một lĩnh vực nào của cuộc sống mà văn học thiếu nhi chưa chạm tới, ngay cả những vấn đề tưởng như khó nói như hạnh phúc gia đình, tình yêu và giới tính, cái sống và cái chết,v.v…Bởi như nhà tâm lý Gerard Severin từng nhận định: “Trẻ có quyền biết sự thật. Sự thật giúp trẻ lớn lên”. Chưa bao giờ các bài học trở nên nhẹ nhàng, gần gũi đến thế.
Đó hoàn toàn không phải là những bài thuyết giáo với những giáo huấn khô khan, cứng nhắc nhưng những tác động tích cực của nó đến nhân cách của trẻ lại vô cùng mạnh mẽ. Ngoài ra, những câu chuyện ấy đã tạo cho học sinh nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Chính những những điều đó đã đánh thức biết bao tình cảm 11 Luan van tốt đẹp nơi các em. Qua đó, các em biết yêu cái đẹp – cái thiện, ghét cái xấu – cái ác,… Từ đó hình thành những phẩm chất đáng quý.
Văn học thiếu nhi cũng là mảnh đất tốt để vun trồng cho những trí tưởng tượng, sáng tạo cũng như năng lực cảm thụ cái đẹp, cái hay. Ai đó đã từng nói thật đáng sợ nếu mắt sáng nhưng không cảm nhận được cái đẹp, có khối óc nhưng không biết suy nghĩ, có trái tim nhưng không biết yêu thương. Văn học góp phần bồi dưỡng các em những phẩm chất trí tuệ, trái tim biết yêu thương, đào tạo các em trở thành những con người mới toàn diện. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học Học sinh Tiểu học là một giai đoạn phát triển.
Đây là giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển của giai đoạn tiếp theo. Trong thời kì hiện nay thì học sinh tiểu học là quá trình phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Trong thời kì hiện nay quá trình phát triển của học sinh Tiểu học có những đặc trưng riêng và có thể tự động tổ chức từ phía nhà trường trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học giáo dục. Do đó đặc điểm của các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học diễn ra như sau: 2.
Tính cách Tính cách của trẻ thường được hình thành từ rất sớm ở thời kỳ trước tuổi đi học. Lúc này những nét tính cách của các em mới được hình thành và dễ thay đổi trước tác động giáo dục của gia đình. Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, ta dễ nhận ra tính xung đột trong hành vi của các em (khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của sự kích thích bên trong và bên ngoài). Do vậy, hành vi của các em dễ tự phát.
Nguyên nhân của hiện tượng này là sự điều chỉnh ý chí đối với hành vi của lứa tuổi còn yếu, các em chưa biết đề ra mục đích của hành động và theo đuổi mục đích đến cùng. Tính cách của các em có nhược điểm thường bướng bỉnh, phản ứng lại những yêu cầu của người lớn mà các em xem là cứng nhắc để chống lại sự cần thiết phải hy sinh cái nó “muốn” cho cái nó “phải”. 12 Luan van Các em có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, tính hồn nhiên, tính ham hiểu biết,lòng thương người… Hầu hết các em học sinh Tiểu học đều có tính cách hồn nhiên và rất cả tin: tin vào sách vở, tin vào người lớn, tin bản thân, đặc biệt các em rất tin tưởng thầy giáo, cô giáo của mình; những gì thầy, cô nói, thầy, cô làm đối với các em đều đúng, đều là chân lý. Tuy nhiên niềm tin này còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng.
Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này. Các em hay bắt chước theo lời nói, việc làm của người mà các em gần gũi, yêu thích, hâm mộ nhất là ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè. Đây là một đức tính có tính chất 2 mặt: tốt – xấu. Bởi, các em bắt chước cái tốt cũng lắm mà cái xấu cũng nhiều.
Vì vậy, cần phải cho trẻ biết và gần gũi với những tấm gương cụ thể có đức tính, hành vi, cử chỉ, lời nói tốt, có văn hóa, có đạo đức. Nhu cầu nhận thức Trong những năm đầu của bậc Tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinh phát triển rõ nét, đặc biệc là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần, đối với học sinh Tiểu học nhu cầu này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của trí tuệ. Đó là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và tiến lên trong nhiều tình huống hoặc cảnh ngộ khó khăn để chạm đến đỉnh cao tri thức của nhân loại.
Tổ chức hoạt động học cho học sinh là biện pháp tốt nhất để giúp nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học được nảy sinh, hình thành và phát triển. Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển nhờ các hoạt động muôn màu, muôn vẻ trong nhà trường, xã hội và gia đình. Nhu cầu nhận thức sẽ được phát triển thuận lợi nếu hoạt động của học sinh không quá căng thẳng thần kinh, không bị thất bại lặp đi lặp lại trong học tập. Và các em sẽ tự khắc phục khó khăn để tự mình chiếm lĩnh tri thức, tự học suốt đời.
Tình cảm Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng. Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm còn có vị trí đặc biệt 13 Luan van quan trọng vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của trẻ. Nhờ có tình cảm tích cực giúp cho trí tuệ của trẻ phát triển mà còn thúc đẩy trẻ hoạt động. Dù biết trí tuệ phát triển cao là cơ sở để tình cảm, ý chí phát triển theo nhưng không được xem nhẹ giáo dục tình cảm ở học sinh Tiểu học.
Nếu trong giáo dục tri thức và tình cảm có sự thiên lệch nào đó không những gây khó khăn mà còn gây hậu quả cho sự phát triển nhân cách sau này và tạo nên một kiểu nhân cách mất cân đối. Tình cảm, cảm xúc của học sinh Tiểu học thường là về những sự vật, hiện tượng,… cụ thể, sinh động. Các em dễ bị kích thích của hệ thống sự vật, hiện tượng hơn hệ thống tiếng nói, chữ viết. Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình.
Tính dễ xúc cảm được thể hiện được thể hiện ở các quá trình nhận thức, tri giác, cảm xúc, hiện tượng, tư duy. Các em suy nghĩ bằng “hình thức”, “xúc cảm”, “âm thanh”. Các quá trình nhận thức, hoạt động của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của xúc cảm và đều đậm màu sắc xúc cảm. Học sinh còn chưa biết kìm chế tình cảm của mình, chưa biết kiểm tra sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài.
Các em bộc lộ tình cảm một cách hồn nhiên, chân thật.