phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài có bố cục gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng quan Di tích lịch sử Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý tại Di tích lịch sử Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Di tích lịch sử Địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA ĐIỂM KHỞI NGHĨA BÀ TRIỆU 1.
Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 1. Một số khái niệm liên quan Di sản văn hóa là bức tranh văn hóa đa dạng muôn màu sắc của mỗi quốc gia, là biểu tƣợng sinh động về niềm tin, phong tục, tập quán, tín ngƣỡng và đời sống tạo nên dấu ấn và bản sắc riêng của mỗi cộng đồng. Khái niệm Di sản văn hóa: Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 đƣợc Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua, thuật ngữ “di sản văn hóa" chính thức đƣợc ghi trong văn bản pháp quy cao nhất và đƣợc sử dụng phổ biến. Năm 2009, Luật di sản văn hóa đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản, theo đó DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam”[15, tr.
Di sản văn hóa phi vật thể : Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Các di sản văn hóa phi vật thể cụ thể nhƣ sau: Tiếng nói, chữ viết Ngữ văn dân gian Nghệ thuật trình diễn dân gian 12 Tập quán xã hội và tín ngƣỡng Lễ hội truyền thống Nghề thủ công truyền thống Tri thức dân gian Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa vật thể đƣợc dùng để chỉ các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, gồm: Di tích lịch sử - văn hóa Danh lam thắng cảnh Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Khái niệm Quản lý: Trong Đại từ điển tiếng Việt, “Quản Lý" đƣợc hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [26, tr. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đƣa ra khái niệm cụ thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra".
Tại Điều 4, Luật di sản văn hóa Việt Nam, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 có ghi: “ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. [15]; Về bản chất, di tích là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể địa điểm đó và cảnh quan thiên nhiên có sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con ngƣời nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó. Phân loại di tích lịch sử văn hóa theo Luật di sản văn hóa gồm có: di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là địa điểm khởi nghiệp Bà Triệu thuộc loại hình di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh (theo quyết định công nhận năm 2009).
13 Từ khái niệm trên có thể khẳng định rằng di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc. Do đó,khi tiến hành công tác nghiên cứu quản lý thì yêu cầu chủ thể phải tiếp cận một cách chân xác hệ thống giá trị của di tích lịch sử - văn hóa. Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hƣ hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục hƣng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó. Nội dung Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa. Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH. Nội dung quản lý nhà nƣớc về DSVH đƣợc đề cập cụ thể tại Điều 54 và Điều 55.
Tại Điều 54, Mục 1, chƣơng 5 của Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về. Tô chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DSVH; 14 4.
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; 5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 6. Tổ chức, chỉ đạo khen thƣởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 8.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [20, tr. Những nội dung quản lý tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đƣợc chức năng, nhiệm vụ quản lý về DT LSVH. Trong đó nội dung quản lý về di tích lịch sử - văn hóa rất rộng, nên trong quá trình quản lý vẫn phải vận dụng đƣợc phƣơng pháp phù hợp để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nƣớc về DT LSVH nói riêng và DSVH nói chung. Cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công với sự ra đời của nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa.
Ngay từ khi mới ra đời công tác giữ gìn di sản văn hóa dân tộc đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí minh đã ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam vào ngày 23/11/1945. Năm 1986 công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, thay vì nền kinh tế quan liêu, bao cấp hƣớng tới phát triển nền kinh tế thị trƣờng, với nhiều thành phần tham gia theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành hàng loạt các chủ trƣơng, chính sách, pháp luật, những văn bản này tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển di sản văn hóa.
15 Tại Hội nghị Trung ƣơng lần thứ IX, khóa XI Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng công sản Việt nam đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014. Nghị quyết đã đề ra sáu nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con ngƣời Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ đó là: sáng tạo giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, luôn giữ bản sắc dân tộc. Văn bản do quốc hội ban hành Luật di sản văn hóa đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa đƣợc Quốc hội thông qua ngày 18/6/2009.
Luật Di sản văn hóa ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để triển khai hàng loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo về và phát huy giá trị DSVH; chỉ rõ những việc cần làm và không đƣợc làm, những hành vi nghiêm cấm, khen thƣởng, tôn vinh những ngƣời có đóng góp tích cực trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Văn bản do Chính phủ, thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa. Thông tƣ số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Thông tƣ số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hƣớng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Lịch sử - Văn hóa, danh Lam thắng cảnh. 16 Nghị định 166/2018/NĐ-CP ngày 25/12/2018 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh. Một hệ thống cơ sở pháp lý đã đƣợc ban hành, để các văn bản Luật này triển khai, áp dụng vào thực tế là cả một quá trình lâu dài, không một sớm, một chiều.