Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về đề tài tiềm năng du lịch nói chung và tiềm năng du lịch văn hóa nói riêng, nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau về đề tài này. Trong phạm vi của luận văn, tác giả khai thác các công trình nghiên cứu trong nước về đề tài tiềm năng du lịch văn hóa, từ đó nhìn nhận tính trùng lặp của đề tài tác giả đang nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu Đề tài về du lịch văn hóa, tiềm năng du lịch văn hóa đã được nhiều học giả trong nước tìm hiểu và nghiên cứu để hình thành nên các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu.
Đặc biệt các công trình nghiên cứu về các giá trị văn hóa lịch sử của Thủ đô ngàn năm văn hiến đã chỉ rõ các yếu tố giá trị khai thác du lịch văn hóa của Hà Nội. Có thể kể một số công trình sau đây: - Cuốn Lịch sử Thăng Long - Hà Nội của nhóm tác giả Nguyễn Vinh Phúc; Lê Văn Lan, Nguyễn Minh Tường được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức căn bản về lịch sử của vùng đất kinh ký trải gần ngàn tuổi. Cuốn sách soạn theo chuyên mục dựa trên những thành tựu nghiên cứu về Hà Nội gần đây nhất để tái hiện lại quá trình mười thể ký tạo dựng nên Thăng Long – Hà Nội. - Cuốn sách Di tích danh thắng Hà Nội và vùng phụ cận của nhóm tác giả Lưu Minh Trị, Giang Quân, Nguyễn Doãn Tuân có nội dung giới thiệu lịch sử hình thành địa danh Hà Nội với Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của thủ đô Hà Nội; Các làng nghề truyền thống ở Hà Nội; Một số di tích lịch sử văn hoá ở các vùng phụ cận của Hà Nội.
7 z - Cuốn sách Di tích lịch sử - văn hoá trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội của nhóm tác giả Lê Văn Lan, Nguyễn Bá Đang, Trần Lê Văn có nội dung giới thiệu nguồn gốc, lịch sử các di tích lịch sử - văn hoá thuộc khu phố cổ Hà Nội, như Hồ Gươm, Đảo Ngọc, Ô Quan Chưởng, đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu và chùa Phúc Long Dựa trên các nghiên cứu trên, có thể thấy Hà Nội là trung tâm văn hóa của Việt Nam, nơi hội tụ đa dạng các giá trị văn hóa lịch sử vật thể và phi vật thể, tạo dựng nên một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng phong phú, là điều kiện để Hà Nội có thể khai thác và phát triển du lịch văn hóa. Nhận thức được các giá trị văn hóa quý báu đó, tác giả thực hiện luận văn với mong muốn góp phần bổ sung thêm về tiềm năng khai thác giá trị văn hóa lịch sử của Hà Nội vào hoạt động du lịch của Thủ đô. Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài Qua những nghiên cứu về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như phần trên, có thể thấy rằng, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài du lịch văn hóa nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng là rất nhiều. Các công trình nghiên cứu này đều tập trung khai thác các vấn đề cơ sở lý luận, điều kiện về tiềm năng du lịch nhân văn, giá trị văn hóa lịch sử liên quan đến du lịch văn hóa.
Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau và phạm vi không gian nghiên cứu cũng khác nhau. Xét về đề tài phân tích và đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa trong nội thành Hà Nội thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ. Đồng thời, vào thời điểm nghiên cứu hiện nay, khi mà các giá trị du lịch văn hóa trên địa bàn nội thành Hà Nội đang dần bị mai một, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thực tiễn rất cao. Như vậy, đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn, vừa không bị trùng lặp trong đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, tác giả chưa có điều kiện để nghiên cứu, khảo sát và theo dõi trong thời gian dài, trên phạm vi không gian rộng nên các 8 z kết quả nghiên cứu về một vài điểm khảo sát nhỏ chỉ mang tính chất tham khảo và bổ sung thêm vào các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước mà thôi. Cơ sở lý luận về du lịch 1. Khái niệm du lịch Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặc dù vậy, hiện nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất.
Đây là khái niệm được nhiều học giả tìm hiểu và nghiên cứu, đồng thời, nhiều tổ chức cũng đã đưa ra định nghĩa liên quan đến khái niệm này. Cụ thể: Theo IUOTO (International Union of Official Travel Organisation), Liên hiệp quốc tế các tổ chức Du lịch, khái niệm du lịch được hiểu là: “Du lịch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”.67] Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. [5,tr58] Tại Việt Nam, theo Lệnh của Chủ tịch nước số 02/L-CTN ngày 20/02/1999 về việc công bố Pháp lệnh Du lịch, du lịch được hiểu là: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
[10,tr 21] 9 z Theo Luật du lịch số 44/2005/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005, khái niệm du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [10, tr 24] Như vậy, có thể hiểu, khái niệm du lịch theo hai khía cạnh chính sau đây: - Một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh. - Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời, từ đó nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc. Đặc điểm du lịch Để ngành du lịch Việt Nam cũng như ngành du lịch của mỗi quốc gia phát triển tốt nhất, rất cần thiết để các đơn vị và cá nhân hiểu đúng về các đặc điểm, đặc thù của ngành du lịch để phân biệt với các ngành khác.1 dưới đây sẽ tổng hợp lại các đặc điểm của du lịch.
10 z Đặc điểm của du lịch Là ngành công Sản phẩm mang Loại hình tiêu dùng nghiệp không khói tính chất liên ngành dịch vụ khác với tiêu dùng dịch vụ hàng hóa khác Hình 1. Đặc điểm của du lịch (Nguồn: Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2005); Giáo trình Tổng quan du lịch Việt Nam, Nxb Hà Nội) Thông qua hình 1.1, có thể thấy, du lịch mang ba đặc điểm chính: Thứ nhất, Du lịch là ngành công nghiệp không khói. Đây là ngành ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm stress vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết. Với đặc điểm này, ngành du lịch mang lại lợi ích cho quốc gia từ lợi nhuận, môi trường đến những vấn đề về tâm lý, tình cảm của du khách.sau đó là góp phần phát triển kinh tế của quốc gia, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động là các cán bộ làm việc trong ngành.
Thứ hai, Sản phẩm du lịch mang tính liên ngành, tức có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Khi các địa phương trở thành điểm du lịch, du khách đổ về khiến cho nhu cầu về mọi loại hàng hoá dịch vụ khác cũng tăng lên. Thứ ba, Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Điều này làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù 11 z riêng, không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản phẩm du lịch kia.
Phân loại du lịch Về phân loại các loại hình du lịch, tác giả tổng hợp trong hình 1.2 dưới đây: Căn cứ phân loại du lịch Theo Theo Theo Theo Theo Theo Theo Theo Theo Theo môi mục đặc phương loại lứa tuổi độ dài hình phương lãnh trường đích điểm tiện hình du lịch chuyến thức tổ thức thổ tài chuyến địa lý giao lưu trú đi chức hợp hoạt nguyên đi điểm thông đồng động du lịch Hình 1. Căn cứ phân loại các loại hình du lịch (Nguồn: Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2005); Giáo trình Tổng quan du lịch Việt Nam, Nxb Hà Nội) Dựa theo các căn cứ phân loại trên, du lịch được phân thành các loại hình tương ứng sau đây: - Phân chia theo môi trường tài nguyên: (1) Du lịch thiên nhiên, (2) Du lịch văn hoá.