Chương I: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH Chương này trình bày được các khái niệm cơ bản về loại hình du lịch, các loại hình du lịch tại Việt Nam. Khảo sát được các nhu cầu và tiềm năng phát triển du lịch. KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH 1. Các định nghĩa về du lịch - Ngày nay, du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và ngày nay phát triển với tốc độ rất nhanh, tuy vậy khái niệm về du lịch lại được hiểu khác nhau tại các quốc gia khác nhau và ở các góc độ khác nhau. Năm 1925, Hiệp hội Quốc tế các tổ chức Du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch. Ban đầu, du lịch được hiểu là việc đi lại từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Cho đến nay, người ta cho rằng về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước trừ việc đi cư trú chính trị, tìm việc làm đều mang ý nghĩa du lịch.I Pirogionic cho rằng: du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hóa - thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh thế và văn hóa … - Luật du lịch Việt Nam năm 2017 đưa ra khái niệm du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
- Như vậy, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. - Những hoạt động du lịch ngày càng đa dạng, phức tạp để đáp ứng các nhu cầu của du khách (về phương tiện di chuyển, khoảng cách di chuyển, các nhu cầu về ăn uống, đồ dùng cá nhân, đồ lưu niệm, nhu cầu nhận thức,. Vì thế, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép: một mặt là việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí,. và mặt khác là một hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra.
Khái niệm về khách du lịch: - Khách thăm viếng (Visitor) là một người đi tới một nơi (khác với nơi họ thường trú) với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó). Khách thăm viếng được phân chia thành hai loại: - Khách tham quan (Excursionist) là khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm. - Khách du lịch (Tourist) là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao. Các định nghĩa về khách du lịch nhìn chung đều đề cập đến các điểm sau: - Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình.
- Khách du lịch khởi hành với nhiều mục đích khác nhau (trừ mục đích kiếm tiền). Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ (hoặc có sử dụng ít nhất 1 tối trọ). Các khái niệm khác: 3. Sản phẩm du lịch (SPDL): Sản phẩm du lịch là sự kết hợp các hàng hóa và dịch vụ du lịch nhằm phục vụ du khách trong quá trình đi du lịch.
Những bộ phận hợp thành SPDL bao gồm: Hàng hóa (yếu tố hữu hình) và dịch vụ (yếu tố vô hình). Có thể tổng hợp các thành phần của SPDL gồm các nhóm cơ bản sau: Dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống; đồ ăn, thức uống; dịch vụ tham quan, giải trí; hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm; các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch. Đơn vị cung ứng du lịch (Tourism Supplier) Đơn vị cung ứng du lịch là một cơ sở kinh doanh cung cấp cho du khách một phần hoặc toàn bộ sản phẩm du lịch. Ví dụ các đơn vị cung ứng du lịch: một điểm vui chơi giải trí, một khách sạn, một nhà hàng, một công ty vận chuyển.
Tài nguyên du lịch Có nhiều định nghĩa về tài nguyên du lịch: - Theo Pirôjnik (1985): “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực, tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”. - Theo Ngô Tất Hổ (2000): “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”. 6 - Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.
Điểm du lịch. Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nào đó hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Điểm du lịch có quy mô nhỏ; các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch; thời gian lưu lại của khách không quá 1-2 ngày (trừ một vài trường hợp ngoại lệ). Khu du lịch.
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế nổi bật về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường. Tuyến du lịch. Tuyến du lịch là lộ trình nối các điểm du lịch, khu du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, nhằm đáp ứng cho nhu cầu đi tham quan du lịch của du khách. Các tuyến du lịch được coi là một sản phẩm du lịch đặc biệt.
Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch với nhau trên lãnh thổ. Cơ sở cho việc xác định tuyến là các điểm du lịch và hệ thống giao thông. Kinh doanh du lịch Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Theo Điều 38 - Luật Du lịch Việt Nam (2017): Kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ, bao gồm: Dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch và dịch vụ du lịch khác.
Lữ hành Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Theo nghĩa đơn giản, lữ hành là việc thực hiện chuyến đi du lịch theo kế hoạch, lộ trình, chương trình định trước. Cơ sở lưu trú du lịch Là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ du khách. Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều, bãi cắm trại cho thuê,… trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu.
Xúc tiến du lịch Là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch là các hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH Ở VIỆT NAM: Việt Nam có hầu hết các loại hình du lịch dựa trên cách phân loại du lịch. Cụ thể cách phân loại là: 1.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi. Du lịch quốc tế: Là những chuyến đu lịch mà nơi cư trú của khách du lịch và nơi đến du lịch thuộc hai quốc gia khác nhau, khách du lịch đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Du lịch quốc tế bao gổm: + Du lịch quốc tế đến (du lịch quốc tế nhận khách): Là hình thức du lịch của khách du lịch ngoại quốc đến một nước nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó. Quốc gia nhận khách du lịch nhận được ngoại tệ do khách mang đến nên được coi là quốc gia xuất khẩu du lịch.
+ Du lịch ra nước ngoài (Du lịch quốc tế gửi khách): Là chuyến đi của một cư dân trong một nước đến một nước khác và tiêu tiền kiếm được ở đất nước của mình. Quớc gia gửi khách được gọỉ là quốc gia nhập khẩu du lịch. Du lịch trong nước: Là hình thức đi đu lịch và cư trú của công dân trong một nước đến địa phương khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình. Hay nói cách khác là nơi đến du lịch và nơi cư trú của du khách ở trên cùng một quốc gia.
Căn cứ theo mục đích chuyến đi. Du lịch thiên nhiên: Hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã. Ví dụ:Vườn quốc gia Cúc Phương, Ngũ Hành Sơn. Du lịch văn hóa: Thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của nơi đến.
Ví dụ:Thăm viện bảo tàng, tham dự các lễ hội truyền thống. Du lịch xã hội: Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng.