chương 1, Luật Di sản, di tích lịch sử - văn hóa được giải thích là ‘7Ờ công trình xây dựng, địa diêm và các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa diêm đó, có giả trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Muốn trở thành một di tích lịch sữ - văn hóa, đối tượng cần phải là một trong các 12 trường hợp sau [48]: Công trình xây dựng, địa diêm gắn với lịch sử, văn hóa tiêu biêu cùa quốc gia hoặc của địa phương; a) Công trình xây dựng, địa diêm gắn với thần thế và sự nghiệp cùa anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; b) Địa diêm khảo cô có giá trị tiêu biêu; c) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thê kiến trúc, tông thê kiến trúc đô thị và địa điềm cư trú có giá trị tiêu biêu cho một hoặc nhiêu giai đoạn phát triên kiên trúc, nghệ thuật. Và tùy thuộc vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mà di tích lịch sử - văn hóa được xếp thành 3 hạng như sau: di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh, di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đặc biệt [48]. Các nguyên tắc trong hoạt động bảo tồn di tích Với ý nghĩa là tài sản quý giá của nền văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử - văn hóa cần đrrợc bảo tồn một cách có hiệu quả.
Hoạt động bảo tồn ờ đây không chi đơn giản là ghì cho di tích ấy tồn tại, mà còn bao hàm ý nghĩa là giữ gìn đê cho di tích ấy tiếp tục hiện diện hữu ích. Vì vậy, đê có thê bảo vệ những di tích ấy trước những tác động của môi trường thiên nhiên và xã hội, đê có thê bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc cùa di tích, công tác bảo tồn được chia thành các hoạt động sau [43]: Bảo quản di tích: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những tác nhân hủy hoại di tích mà không làm thay đôi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích. Tu bô di tích: là hoạt động nhằm tu sữa, gia cố, tôn tạo di tích. Gia cố, gia cường di tích là biện pháp xử lý các cấu kiện của di tích nhằm giữ ôn định về mặt cấu trúc và tăng cường khả năng chịu lực của các cấu kiện này.
Phục hồi di tích: là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích đã bị hùy hoại trên cơ sở các cír liệu khoa học về di tích đó. Tu sữa cấp thiết di tích: là hoạt động sửa chừa nhỏ nhằm gia cố, gia cường các bộ phận di tích đê kịp thời ngăn chặn di tích khỏi bị đô sập trước khi tiến hành công tác tu bô toàn diện. Đê công tác bảo tồn được thực hiện một cách có hiệu quả, cần phải đảm bảo những nguyên tắc sau [43]: 13 Chi tiến hành bảo quản, tu bô và phục hồi di tích trong trường hợp cần thiết và phải lập thành dự án. Dự án và thiết kế bảo quản, tu bô và phục hồi di tích hoặc báo cáo tu sửa cấp thiết di tích phải được cơ quan nhà nước có thâm quyền phê duyệt.
Phải bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích. Ưu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố di tích trước khi áp dụng nlữrng biện pháp kỹ thuật tu bô và phục hồi khác. Việc thay the kỳ thuật hay chất liệu cũ bằng kỳ thuật hay chất liệu mới phải được thí nghiệm trước đê đảm bảo kết quả chính xác khi áp dụng vào di tích. Chi thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới cùa di tích khi có đủ những chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới thay thế với những bộ phận gốc.
Bảo đảm an toàn cho công trình và khách tham quan. Ngoài ra chúng ta cần tham khảo thêm một số điều khoản trong văn kiện cùa ICOMOS^ về bảo vệ những di tích kiến trúc bằng gỗ. Từ văn kiện được thông qua tại Đại hội đồng lần thír 12 ở Mexico (tháng 10 năm 1999), các nguyên tắc bảo tồn kiến trúc gồ được xác định như sau [51]: Thira nhận tầm quan trọng cùa các kiến trúc bằng gỗ ờ mọi thời kỳ như là bộ phận cùa di sản văn hóa thế giới. Liru tâm tới tính đa dạng lớn lao của các kiến trúc bằng gỗ.
Liru tâm tới các loại và chất lượng gỗ khác nhau dùng đê xây dựng kiến trúc đó. Thíra nhận tính dễ tôn thương của các kiến trúc xây cất hoàn toàn hoặc từng phần bằng gồ, do sự mục nát và thoái hóa cùa vật liệu trong điều kiện môi trường và khí hậu thay đôi, do dao động của độ âm, do ánh sáng, do nấm và côn tràng tấn công, do hao mòn, do hòa hoạn và các tai họa khác. Thira nhận tình trạng hiếm hoi ngày càng tăng của các kiến trúc bằng gỗ là do tính dề tôn thương cùa các kiến trúc đó, sự lạm dụng chúng và sự hẫng hụt về kỳ năng và hiêu biết về kỹ thuật thiết kế và xây dựng truyền thong. Lrru tâm tới vẻ đa dạng của các biện pháp và cách xữ lý cần có, đổi với việc bảo tồn và bảo toàn các tài nguyên lịch sử đó.
Năm 2012, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa 14 giai đoạn 2012 - 2015, trong đó cung cấp nguồn kinh phí 7.399 ti đồng cho việc thực hiện các dự án, chương trinh về văn hóa, trong đó có chương trình chổng xuống cấp, tu bô và tôn tạo di tích. Một số nhà cô vùng đồng bằng sông Cửu Long được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia như nhà cô Bình Thủy, nhà cô Huỳnh Thủy Lê cũng đã được cấp kinh phí đê tôn tạo và trùng tu. Như vậy, có thê thấy, tất cả các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa nói chung, bảo tồn những công trinh kiến trúc nhà cô nói riêng đã được Nhà nước quan tâm chú ý và đã được quy định rõ ràng trong những điều khoản nói trên, thế nhưng, việc vận dụng chúng vào thực tế còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thê. Với những đặc diêm riêng và hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt với những vùng miền khác, công tác bảo tồn được thực hiện như the nào đối với các nhà cô vùng đồng bằng sông Cĩru Long là một số vấn đề cần hni ý.
Các lý thuyết về nhân học du lịch 1. Quan điếm chung của Nhân học về du lịch Năm 1996 trong tác phâm “Anthropology- of Tourism ” của Nash, ông đã tập hợp tông kết quan diêm chung của các nhà nhân học nghiên círu về du lịch như sau: Du lịch như là sự tiếp biến văn hóa hay là sự phát triên nghĩa là hướng đến nghiên cứu các ảnh hưởng của du lịch. Du lịch là sự biển chuyên cá nhân dựa trên góc độ cùa du khách, lấy những trải nghiệm của du khách, nguyên do và hậu quả của việc du lịch của các cá nhân làm đối tượng nghiên cím. Du lịch là biêu hiện của kiến trúc thượng tầng xuất phát hr nhiệm vụ tìm kiếm lời giãi đáp cho câu hòi về những điều kiện nào thì du khách xuất hiện và du lịch nảy sinh.
Trong phạm vi nghiên círu của đề tài, chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn quan diêm xem du lịch như là sự tiếp biến văn hóa hay là sự phát triên nghĩa là hướng đến nghiên cứu các ảnh hường của du lịch. Đây là quan diêm chính đê chúng tôi tiếp cận nghiên cím vấn đề. Có nhiều sự nhìn nhận khác nhau cùa các nhà nhân học về ảnh hường tích cực lẫn tiêu cực của du lịch đổi với cộng đồng chủ. Những người theo xu hướng cô xúy cho rằng du lịch mang lại lợi ích cho cộng đồng chủ như Mac Kean, Cohen, Hermans, Boissevaun., tuy nhiên số lượng người theo xu hướng này là không nhiều.
Đối lập là 15 quan điêm theo xu hướng thận trọng và phần nào chống đối lại sự phát triên cùa du lịch. Theo họ, du lịch là sự phát triên từ bên ngoài và sự đảo ngược tự nhiên về lực lượng lao động giữa du lịch và nông nghiệp là không thê xảy ra. Những điều du lịch mang lại như là việc làm và thu nhập là không nhiều, trong khi các vấn nạn xã hội đi cùng với nó là không thê tránh khỏi như mại dâm, ăn xin, móc túi. Các nhà nghiên círu theo quan diêm này đã chi ra những tác động to lớn của du lịch đối với cộng đong chủ: du lịch làm hàng hóa hóa hoạt động văn hóa (Greenwood, 1977), tiêu diệt cuộc sống cộng đồng (Kottak, 1966), xem nhẹ và biến dạng các giá trị truyền thống (Jordan, 1980), cô xúy cho sự mô hình hóa (Pi-Sunyer, 1977), tàn phá môi trường (Loukissas, 1978), thui chột nền nông nghiệp (Rosenberg, 1988).
Cùng với hai quan diêm trên, một sổ nhà nhân học cũng nhận thấy những tác động của du lịch có sự biến thiên từ xấu đến tốt. Chính vì vậy, nếu có sự can thiệp hợp lý thì có thê tạo ra những lợi ích vượt trội hơn so với sự tôn thất mà du lịch gây ra cho cộng đồng chù [14, tr. Bên cạnh đó, theo quan diêm này, các nhà nhân học nhận thấy bản chất cùa sự biến đôi văn hóa, xã hội và môi trường do du lịch mang lại là có sự khác nhau tùy thuộc vào từng loại hình du lịch cụ thê. Sự du nhập của du lịch cùng những yeu tố văn hóa mới từ bên ngoài vào trong xã hội của cộng đồng chù sẽ đặt những lực lượng nhất định vào sự vận động dần đến sự biển đôi trong phong cách sống cùa cộng đồng chủ.
Các lý thuyết chính của Nhân học du lịch - Lý thuyết về xây dựng và sứ dụng hình ảnh trong du lịch (site = sight) hay ỉà lý thuyết về sự trưng bày văn hóa (cultural representation) Lý thuyết này đề cập đến ba thiết chế chính của việc trưng bày văn hóa là bảo tàng, di sản và lễ hội. Nội dung của lý thuyết này là tại sao lại chọn nét văn hóa này chứ không phải là nét văn hóa khác đê trưng bày. Là chỗ dựa chính của du lịch, đích đến và hình ảnh làm sao phải thê hiện được nét đặc trưng riêng của vùng. Đây là một công việc khó khăn, đòi hòi cần phải có sự phối hợp đồng bộ, đồng thuận giữa cấp chính quyền vĩ mô và các cộng đồng.