Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ KHU LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ CÁC VỊ VUA TRIỀU LÝ 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 1. Một số khái niệm Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý là một trong những tiền đề quan trọng cho công tác QL DSVH nói chung và công tác QLDT LSVH tại phường Đình Bảng nói riêng, trong đó có Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý, nhằm giải quyết từng bước những vấn đề còn hạn chế trong quá trình quản lý nhà nước về DSVH. Trong xã hội hiện nay bao gồm rất nhiều phương diện, nhu cầu và đòi hỏi có nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng nhu cầu đó như: hoạt động trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, văn hóa, giáo dục.
Mỗi lĩnh vực đều đặt dưới sự điều chỉnh của một cơ chế quản lý toàn xã hội, có sự chỉ đạo để điều hòa hoạt động của các cá nhân, từ đó hình thành nên hoạt động về quản lý. Di sản văn hóa Văn hóa là lĩnh vực rộng, trong đó có DSVH là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Di sản là cái thời trước để lại; còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [39, tr. Trong Công ước về Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hóa” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học.
Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình 11 riêng lẻ hoặc liên kết mà có, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học [53, tr. Khái niệm di sản trong một số từ điển được hiểu theo một nghĩa đơn giản đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳng hạn như truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các tòa nhà, đã được tạo ra trong quá khứ và vẫn còn có tầm quan trọng trong lịch sử. Theo Luật DSVH được ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009: DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [40, tr. Qua các khái niệm trên, thấy rõ được DSVH Việt Nam chính là thành quả của các thế hệ cha ông ta hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh trong quá trình dựng nước và giữ nước; đồng thời cũng là bằng chứng sống động nhất, hấp dẫn nhất cho sự vận động, biến chuyển, giao thoa và sự phát triển toàn diện của đời sống xã hội. Di tích lịch sử văn hóa và di tích quốc gia đặc biệt * Di tích lịch sử văn hóa Các nước trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về di tích LSVH, mỗi khái niệm đều mang ý nghĩa khác nhau. Di tích là một bộ phận của di sản văn hóa, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, góp phần vào việc giáo 12 dục truyền thống cho cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay, di tích là thông điệp của quá khứ truyền lại cho thế hệ mai sau, nó có chức năng giáo dục và sống cùng với thời gian.
Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích: Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa bất động [39, tr. Trong giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của Trường Đại Học Văn hóa Hà Nội thì di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [21, tr. Tại điều I của Hiến chương Venice - Italia quy định: Di tích lịch sử văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [9, tr. Khái niệm trong Luật Di sản văn hóa quy định về DT LSVH: Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [40, tr. * Di tích quốc gia đặc biệt được quy định trong điều 29 của Luật Di sản văn hóa được sửa đổi năm 2009 như sau: Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia [40, tr. Việc quy định này bao gồm cả 04 loại hình di tích, riêng khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý được xác định là công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật Việt Nam.
13 Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa. Tại điều 28 của Luật Di sản văn hóa có quy định: Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương trong thời kỳ lịch sử.
Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1. Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu.
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất [40, tr. Quản lý Quản lý là một khái niệm có từ rất sớm, đây là một phạm trù tồn tại khách quan, ra đời từ nhu cầu ở mỗi chế độ xã hội, mỗi quốc gia và mỗi thời đại. Phương Tây dùng từ quản lý là “management”, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động dễ dẫn dắt. Quản lý trong từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Vậy, quản lý là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó phát triển. 14 Theo giáo trình Quản lý hoạt động văn hóa được xuất bản vào năm 1998 cho biết thông tin: Theo Các Mác quan niệm rằng: Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một hoạt động lao động: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung.
Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng [35, tr. Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia ghi rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý” [23, tr. Nói chung, quản lý là chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động thực hiện một chương trình và một mục tiêu của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý. Hiểu theo nghĩa thông thường thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.
Căn cứ vào quy mô và tính chất, có thể chia quản lý thành: Quản lý vĩ mô bao gồm “hoạt động quản lý nhà nước nói chung về các lĩnh vực, ngành nghề trong xã hội. Hình thức này là sự tác động mang tính chất quyền lực nhà nước, theo hướng điều tiết và định hướng với các nhiệm vụ cơ bản” [23.