CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH VĂN BẢN VÀ VỊ TRÍ THƠ PHẬT GIÁO NHÌN TỪ SỐ LƯỢNG VÀ BỐ CỤC SẮP XẾP TRONG HAI BỘ THI TUYỂN Việt âm thi tập 越音詩集 và Toàn Việt thi lục 全越詩錄 là hai bộ thi tuyển tiêu biểu của hai giai đoạn lịch sử nước ta. Trong khi Việt âm thi tập được biên soạn vào thế kỷ thứ XV với ba soạn giả gồm Phan Phu Tiên, Chu Xa, Nguyễn Tử Tấn, thì đến kỷ thế XVIII, Toàn Việt thi lục do Lê Quý Đôn biên soạn mới ra đời. Về điểm chung, hai bộ thi tuyển đều được chắp bút bởi các vị danh nho có địa vị dưới triều Lê khi mà Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn về mặt chính trị, giáo dục. Trong ba thế kỷ, từ thế kỷ XV và thế kỷ XVIII, Nho giáo và Phật giáo đều có sự phát triển theo những xu hướng khác nhau, bối cảnh thời đại và chủ ý biên soạn của các tác giả qua mỗi giai đoạn có sự chuyển biến nhất định.
Điều đó được thể hiện qua việc biên soạn, sắp xếp thơ Phật giáo trong mỗi bộ thi tuyển. Tình hình văn bản Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục Hai bộ thi tuyển là Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục được nhận định là khá phức tạp về mặt văn bản học. Về phương diện này đã có một số công trình nghiên cứu khá kĩ lưỡng (như Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm; phần Khảo luận văn bản của Thơ văn Lý – Trần; Nguyễn Thanh Tùng; Hà Văn Minh; Phạm Vân Dung)18. Về cơ bản, luận văn kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình này, trên cơ sở đó, xác định bản nền làm dữ liệu nghiên cứu chính cho đề tài.
Văn bản Việt âm thi tập Vấn đề văn bản Việt âm thi tập đã được các nhà nghiên cứu, nhận định với các công trình nghiên cứu mang tính thư mục học, văn bản học, ngữ văn học, thi học chữ Hán. Về văn bản Việt âm thi tập hiện còn 5 văn bản có thể khảo cứu gồm: - Bản thứ nhất là bản khắc in năm Kỷ Dậu, niên hiệu Bảo Thái thứ 10 (1729), đời vua Lê Dụ Tông, mang kí hiệu A.1925 của Thư viện Khoa học Xã hội, sau chuyển sang lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. - Bản thứ hai được Thư viện Quốc gia chụp lại, bản khắc in trên bằng máy pilôrit mang kí hiệu R. 18 Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Tập 2, Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, Hà Văn Minh, Luận án Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Phạm Vân Dung (2018), Nghiên cứu các bộ thi tuyển Hán văn Việt Nam thế kỷ XV, Luận án Tiến sĩ, Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội 16 - Bản thứ ba mang kí hiệu A.3038 được chép tay vào năm Tự Đức thứ 34 (1881), lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có nội dung và cách trình bày gần giống với bản A. - Bản thứ tư là bản chép tay mang kí hiệu R.1629 lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, thiếu bài tựa của Phan Phu Tiên, Nguyễn Tấn, phần bổ di nhưng lại chép thêm gần một nửa số thơ thuộc quyển 4. - Bản thứ 5 mang kí hiệu HN.445 lữu trữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội Việt Nam là bản chép tay, không có các bài tựa, biểu của các đồng biên tập sách, thiếu quyển 1, quyển 4, chép thêm được một phần quyển 5.
Dựa theo khảo sát, mặc dù cả 5 văn bản đều ở dạng tàn khuyết tuy nhiên văn bản mang kí hiệu A.1925 hiện được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, được đánh giá là “thuộc vào loại những bản in cổ nhất trong kho sách Hán Nôm hiện còn ngày nay”19 với những ưu điểm như là bản khắc in, còn bảo lưu được phần đầu sách thuận tiện cho công việc xác định vị trí, giá trị của bộ phận thơ Phật giáo được tuyển chọn trong bộ thi tuyển. Toàn bộ sách gồm 6 quyển dựa theo khảo sát thực tế gồm 115 đơn vị tác giả với 630 đơn vị thi phẩm, tuy nhiên văn bản hiện còn chỉ có đủ 3 quyển đầu với 284 đơn vị thi phẩm của 50 đơn vị tác giả. Do vậy, luận văn lựa chọn văn bản ký hiệu A.1925 là văn bản nền phục vụ cho cứ liệu nghiên cứu. Bản A1925, bên trái là bìa sách Việt âm thi tập, bên phải trang 3 có dòng “Sắc tứ san hành” phía trên cùng 19 Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Tập 2, Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. Văn bản Toàn Việt thi lục Về văn bản Toàn Việt thi lục, hiện khảo cứu được 13 văn bản Toàn Việt thi lục được lưu trữ tại các thư viện Trung ương và Hà Nội, bao gồm: - Ba bản A.132 đều đánh giá là bản tương đối đầy đủ lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.2139/A và bản HM2139/B do Hà Văn Minh sưu tầm tại Trung Quốc, lưu trữ tại Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong số 13 văn bản trên, có 4 văn bản được nhà nghiên cứu Hà Văn Minh xếp vào nhóm văn bản loại I, gồm có các văn bản: A.1262 tuy là bản cổ nhất được Trần Văn Giáp đánh giá cao trên thực tế lại rất khó đọc vì lối viết thảo cổ. Nên chính tác giả cũng thường dùng bản A.132, trong luận án Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Hà Văn Minh nêu những hạn chế của văn bản này như: mặc dù sách được chép theo lối chữ chân dễ đọc nhưng số lượng các quyển lên tới 26 quyển.
Trong 15 quyển đầu, phần gần giống với bản A.2139 thì thiếu mất Q7 đến Q11, cách chia tập cũng có sự sai khác với các bản Toàn Việt thi lục khác20. Qua khảo cứu bộ phận thơ Phật giáo thuộc bản A.132 có sự sai khác nhiều so với bản A. Về bản HM.2139 vốn gồm hai phần là bản HM. 2139/A gồm 15 quyển và HM.
2139/B gồm quyển 15 và 16. Bản HM2139/A gồm 1078 trang. Các mục Lệ ngôn, Mục lục ghi chép đầy đủ. Chỉ có một vài khác biệt nhỏ với bản A.1262 Về nội dung, bố cục của bản HM.2139/A gần giống với bản A.
Toàn bộ bản HM.2139/A không có hiện tượng kỵ húy, được đoán định đây là bản do Viễn Đông bác cổ sao lại, khi sao người sao đã hiệu chỉnh lại những chữ kị húy hoặc cũng có giả định đây là bản tương đối cổ từ thời Lê. Văn bản này gồm 15 quyển, chép tay, viết lối chữ chân thống nhất cả trong bộ sách, nét chữ mảnh ít sai sót, sách có chấm câu đầy đủ, được xác định là do một người sao chép. Mỗi trang có từ 9 – 10 dòng, mỗi dòng 22 chữ. Ngoài ra nội dung và bố cục 20 Hà Văn Minh, Luận án Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.
18 số lượng thơ Phật giáo trong bản HM.2139/A gần giống với bản A. Như vậy, với những ưu, nhược điểm của từng bản đã được xác định qua các công trình nghiên cứu được công bố, luận văn chọn văn bản HM.2139/A làm bản cơ sở, đồng thời tham khảo văn bản A.1262, để bổ sung một số bài thơ Phật giáo có trong bản A.1262 mà không có trong bản HM.2139 để phản ánh hoàn diện hơn bộ phận thơ Phật giáo có trong Toàn Việt thi lục. Toàn Việt thi lục, bản HM2139/A, phần Lệ ngôn. 19 Thông qua khảo sát bộ phận thơ Phật giáo có mặt trong hai bộ thi tuyển cho thấy, phần lớn hình thức và nội dung giữa các thi phẩm giống nhau tuy nhiên về mặt văn tự giữa hai bộ thi tuyển cũng có một số chỗ sai khác.
Qua khảo sát 45 bài thơ Phật giáo đều được tuyển chọn trong cả hai bộ thi tuyển (7 bài thơ Phật giáo thuộc Việt âm thi tập không có trong Toàn Việt thi lục) có đến 11 đơn vị thi phẩm có tiêu đề khác nhau giữa hai bộ thi tuyển cụ thể như sau: STT Việt âm thi tập Toàn Việt thi lục 1 Kí Thanh Phong am Tăng Đức Sơn Ký Đức Phong am tăng Đức Sơn 寄 清 風 庵 僧 德 山 寄 德 風 庵 僧 德山 2 Hạnh Thiên Trường phủ 幸 天 長 Hạnh Thiên Trường hành cung 幸 府 天 長行宫 3 Đăng Bảo Đài Sơn họa vận 登 宝 Đăng Bảo Đài Sơn 登 宝 臺 山 臺 山 和 韻 4 Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai Vãn Pháp Loa tôn giả đề Đức Mai tự挽 法 螺 尊 者 題 清 梅 寺 tự 挽 法 螺 尊 者 題 德 梅 寺 5 Đề Đông Sơn tự 題 東 山 寺 Đông Sơn tự東 山 寺 6 Đề Gia Lâm tự題嘉林寺 Gia Lâm tự嘉林寺 7 Vọng Đông Sơn Liễu Nhiên am 望 Vọng Đông Sơn Liễu Xã am 望 東 東 山 了 然 庵 山 了 社 庵 8 Đề Gia Lâm tự 題嘉林寺 Gia Lâm tự 嘉林寺 9 Xuân dạ dã tự 春夜野寺 Xuân nhật dã tự春日野寺 10 Đề Lãng Ngộ thủy hoa đình 題朗悟 Đề Triều Công thủy hoa đình 題朝 水花亭 公水花亭 11 Dục Thúy sơn 浴 翠 山 Dục Thúy sơn khắc thạch 浴 翠 山 20 刻 石 Về văn tự trong nội dung các đơn vị thi phẩm giữa hai bộ thi tuyển thống kê được 12 trường hợp có sự khác nhau. Những chỗ khác nhau được bôi đậm trong bảng thống kê sau: STT Thi phẩm Việt âm thi tập Toàn Việt thi lục 1 Đại Giác Thần Quang tự 撐兔飛飛天上遊 撐兔飛烏天上遊 2 Bài Thiên Trường vãn vọng 白 鷺一雙飛下田 白 鷺雙雙飛下田 3 Lạng Châu vãn cảnh 水明山淨白鷗過 水明山靜白鷗過 4 Vũ Lâm thu vãn 濕雲如夢遠鐘聲 濕雲和露送鐘聲 5 Vãn Pháp Loa Tôn giả đề 唾手塵寰已万緣 唾手塵寰已了緣 Đức Mai tự 6 Đề Siêu Loại Báo Ân tự 風遞鳥聲開覺靜 風遞鳥聲林覺靜 7 Gia Lâm tự 步倒虎蹲堂 履步到禪堂 8 Hoàng Châu đạo thượng 登車空有意 登車空有恨 tác 9 Phỏng Tăng 詩禪勘破聊歸去 詩禪圮破聊歸去 10 Tương Sơn tự, lễ Vô Lượng 從來佛本無名相 從來活佛無名相 Thọ Phật chân thân, Đường Phong Toàn Chân Di tích xứ 11 Đề Lãng Ngộ Thủy Hoa 屢結香社盟 屢結白社盟 Đình 超然心自得 悠然心自得 12 Báo Thiên Tháp 我來欲泚題名筆 我來興泚題詩筆 Bảo Sơn tự 聊把勤勞州縣心 聊把勤勞世樂心 Nhìn chung về mặt văn tự giữa hai bộ thi tuyển có sự sai khác nhưng không ảnh hưởng nhiều tới nội dung, chủ đề trong các bài thơ.