Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các khái niệm Nhằm tạo tiền đề, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu, chúng tôi trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài như: Khái niệm văn hóa, khái niệm trang phục, phẩm phục, biểu tượng.; Cơ sở lý luận và thực tiễn hoa văn trên Phẩm phục triều Nguyễn tại BTLSTPHCM; tổng quan về BTLSTPHCM. Văn hóa Ngày nay, ở Việt Nam và trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu, cũng như các học giả đã nghiên cứu và đưa ra những khái niệm về văn hóa. Có những khái niệm văn hóa đề cao tính cá thể như Tylor (1832-1917), khái niệm về văn hóa của ông: “văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học.
Nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên xã hội” [55, tr. Tylor cho rằng văn hóa “trước hết phải là một thành viên của xã hội”; có khái niệm văn hóa như một cấu trúc theo UNESCO: “văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả những hệ thống giá trị”; có những khái niệm nghiêng về miêu tả như khái niệm của Hồ Chí Minh: “trước tiên Người nghĩ ngay đến việc sinh tồn cũng như mục đích sống của nhân loại thì loài người mới cần thiết tạo ra những sản phẩm đó là văn hóa”… Nhưng theo chúng tôi thấy khái niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh là tương đối phù hợp với đề tài mà chúng tôi tiếp cận nghiên cứu. Khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày, về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó đều là văn hóa”[60, tr.
23] 17 Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, trang phục cũng là nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp xã hội, cho dù là thời đại nào hay hoàn cảnh nào thì việc mặc cũng luôn được quan tâm và luôn đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Như lời nhận xét của GS. Vũ Khiêu đã nhận xét trong lời giới thiệu của quyển sách Trang phục Thăng Long Hà Nội của Đoàn Thị Tình: “Làm thế nào để phân biệt được tính sáng tạo của con người Việt Nam trong việc tạo ra các kiểu áo, quần sao cho giản dị trong sinh hoạt gia đình, gọn gàng trong lao động, thoải mái trong lúc đi chơi và trang nghiêm trong các lễ hội”. Mặt khác thông qua trang phục người ta có thể hình dung đến đời sống vật chất và tinh thần qua từng thời kỳ, diện mạo thông qua trang phục, có thể hình dung từ cách sinh hoạt của người dân trong lễ hội, cũng như trong đời sống thường nhật.
Sự hưng vong của một triều đại, cũng có thể biết thêm bằng các chính sách cai trị của một vị vua thông qua các phẩm phục của vua quan [42, tr 6]. Còn rất nhiều khái niệm về văn hóa, nhưng chúng tôi chỉ xin trích vài khái niệm về văn hóa vừa nêu trên, và văn hóa được hiểu là: Văn hóa là một phức thể bao hàm và chứa đựng những giá trị văn hóa mang tính vật chất và tinh thần, văn hóa vật chất giúp cho con người thỏa mãn về nhu cầu cũng như phương tiện sống như: nhà cửa, các vật dụng hàng ngày, các công cụ lao động…, văn hóa tinh thần thỏa mãn về nhu cầu giải trí như: lễ hội, hát xướng, tín ngưỡng, trang phục…Văn hóa luôn đi theo con người chúng ta từ buổi sơ khai đến thời đại văn minh của nhân loại, mọi lúc, mọi nơi văn hóa luôn tồn tại trong mỗi chúng ta, dù chúng ta là ai, dù chúng ta ở đâu, ngay cả những lúc cơ hàn hay những lúc giàu sang phú quý thì văn hóa là cái hiện hữu và tồn tại không bao giờ tách rời ngay cả khi chúng ta chìm vào giấc ngủ nghìn thu. Vì vậy, văn hóa là dòng chảy xuyên suốt từ thế hệ này sang đến thế hệ khác, cũng là sự vận động liên tục không ngừng nghỉ, luôn luôn giao thoa tiếp biến, cải tiến hòa nhập để phát triển cho cộng đồng, cho xã hội trên cơ sở xã hội chấp thuận những yếu tố mới phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại. Ngày nay nhằm nâng cao giá trị di sản và tri thức của cộng đồng Đảng và Nhà nước ban hành một 18 số Luật nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di sản Việt Nam cũng như di sản thế giới tại Việt Nam.
Năm 2001, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X thông qua Luật Di sản văn hóa, và đã quy định tại Điều 1, bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [22, tr. - Di sản văn hóa vật phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, chữ viết được lưu truyền bằng trí nhớ, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức nghề y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [22, tr. 8] - Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích - lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [22, tr.
Trang phục Theo Nguyễn Thị Đức khái niệm về trang phục: “Trang phục hay còn gọi là cái mặc là một nhu cầu vật chất quan trọng thứ hai sau cái ăn trong đời sống nhân loại. Dưới tính chất thực dụng thì nó là một sản phẩm vật chất, dưới góc độ thẩm mỹ thì nó là một tác phẩm nghệ thuật, dưới góc độ văn hóa thì trang phục là một sắc thái biểu hiện bản sắc” [14, tr. Bên cạnh các hình thái văn hóa trong đời sống hàng ngày khác như: nhà cửa, đồ dùng… thì trang phục cung đình là một nhu cầu vật chất cần thiết và gắn bó với con người như “hình với bóng”. Do vậy, ngoài chức năng bảo vệ cơ thể người, trang phục còn là sự phản ánh nếp sống văn hóa, xã hội.
Đặc biệt là giai cấp thống trị thời kỳ quân chủ có những quy định rõ ràng, chặt chẽ để thể hiện sự tôn tri, trật tự xã hội, thứ dân mặc khác với vua, quan, từng phẩm cấp, phẩm hàm, căn cứ trên độ dài, độ ngắn, màu sắc, họa tiết trang trí trên trang 19 phục từng tầng lớp trong xã hội, trên vua, dưới quan từ lớn đến nhỏ, học trò, thứ dân đều có sự quy định về trang phục [14, tr. Phẩm phục (品服) Phẩm: là bậc cao thấp trong hệ thống quan lại, còn được gọi là đẳng trật. Phẩm hay phẩm trật là cấp bậc của viên quan trong hệ thống cửu phẩm quan giai của triều đình, gồm 9 bậc căn bản, mỗi bậc chia làm 2 cấp, chánh và tòng. Phục: theo từ điển Hán Việt, phục (服) là áo mặc gồm có lễ phục và thường phục [10, tr.
Theo từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam của Hữu Ngọc chủ biên đưa ra khái niệm về phẩm phục: Là trang phục theo phẩm trật từ nhất phẩm đến cửu phẩm của quan lại mặc khi thiết triều (đại triều), gồm mũ, áo, đai, hia, hốt [34,tr.Theo Đoàn Thị Tình thì có bổ sung thêm, phẩm phục là trang phục của vua, quan phong kiến gồm: Mũ, Áo, xiêm, đai, hia, tất … có sự quy định, phân biệt bằng kiểu may, chất liệu, màu sắc, hoa văn, họa tiết… tùy theo chức danh, cấp bậc, phẩm trật trong bộ máy triều đình. Năm 1806 vua Gia Long (嘉隆) ban chiếu quy định về phẩm phục đại triều, thường triều cho các hàng văn giai, võ giai, trong đó có, mũ, áo bào, mãng bào, mãng lan,đai, hia, tất, bổ tử…mỗi loại được chỉ định kiểu dáng, màu sắc tùy theo cấp bậc [42, tr. Mãng bào Mãng bào hay còn gọi là bào phục, sắc phục về áo bào đại triều theo Hội điển, quy chế năm 1806 quy định: Áo bào triều phục dành cho các quan trên nhất phẩm áo mãng bào màu tía, cổ tròn; từ tam phẩm đến nhất phẩm mãng bào cổ tròn các màu xanh, lục, lam, đen tùy nghi sử dụng. Quy chế này được sửa đổi năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), lúc này các quan từ tam phẩm trở lên đều mặc mãng bào, trong đó quan trên nhất phẩm mặc màu tía, quan chánh nhất phẩm mặc màu cổ đồng, tòng nhất phẩm màu thiên thanh, chính nhị phẩm mặc màu cam bích, tòng nhị phẩm mặc 20 màu quan lục, chính tam phẩm mặc màu bảo lam, tòng tam phẩm mặc màu ngọc lam, quan tứ phẩm mặc hoa bào [15, tr.
Mãng lan: Là dạng áo tay hẹp, có lối dệt, thêu sức (hoa văn) như áo mãng bào, song chiều dài vạt áo, ống tay áo ngắn hơn và nhỏ hơn mãng bào. Theo Hội điển “Trước đây áo hẹp tay của quan viên thị vệ (dành cho võ quan) được gọi là áo Long chấn, như vậy không phù hợp, nay gọi áo hẹp tay là mãng lan mới phải, từ rày không được gọi theo cách gọi trước kia để làm rõ danh phận”[15, tr. Hoa văn Hoa văn: Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên: Hình vẽ hoặc được thể hiện trang trí trên các đồ vật, hoa văn trên trống đồng, quần áo dệt, thêu hoa văn sặc sỡ [36. Khái niệm về biểu tượng Tự điển Larousse cho rằng : "Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó"; Theo Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131 - 1200) trong "Dịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết: "Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia” [63, tr.