Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số 9.04) của nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Khánh với đề tài "Nghiên cứu văn bản kham dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm", được hoàn thành năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Khắc Mạnh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày Kham dư (thường gọi là Phong thủy) vốn là một bộ môn văn hóa về môi trường và kiến trúc xuất phát từ Trung Quốc cổ đại, vận dụng triết học duy vật chất phác và lý thuyết âm dương ngũ hành nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Tại Việt Nam, trải qua chiều dài lịch sử tiếp biến văn hóa, hệ thống thư tịch Kham dư Hán Nôm được sáng tác và lưu truyền với số lượng đáng kể. Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu trước đó bộc lộ khoảng trống lớn: các công trình trong nước chủ yếu dừng lại ở việc biên dịch, phổ biến kinh nghiệm thực hành từ các ấn phẩm hiện đại mà không đối chiếu nguyên bản; thiếu sự khảo sát, giám định văn bản học đối với các tư liệu gốc lưu trữ tại các cơ quan nghiên cứu trung ương; chưa có công trình nào thống kê toàn diện, phân loại, đánh giá mức độ tin cậy và xác định thiện bản của mảng văn bản này; đồng thời việc nghiên cứu tác gia hầu như chỉ giới hạn ở nhân vật Tả Ao mà chưa bao quát các tác giả Hán Nôm khác.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa văn bản, tác phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; khai thác, nghiên cứu và chứng minh giá trị khoa học cùng ý nghĩa thực tiễn được phản ánh trong các tác phẩm; trên cơ sở đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của nguồn di sản văn hóa truyền thống này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Thống kê định lượng và hệ thống hóa văn bản Kham dư Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, xác định thiện bản để nghiên cứu.
- Giới thiệu thân thế sự nghiệp văn trước tác Kham dư của một số tác giả Kham dư Hán Nôm Việt Nam có tác phẩm lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
- Nghiên cứu, khai thác nhằm tìm ra những nét đặc điểm có tính khoa học và thực tiễn về Kham dư trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam đương đại.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ các văn bản Kham dư Hán Nôm Việt Nam hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngoài ra, tác giả có tham chiếu thêm tài liệu liên quan lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào các vấn đề văn bản học của khối thư tịch Kham dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; khảo sát các tác gia Hán Nôm tiêu biểu có trước tác lưu trữ tại đây; phân tích các ghi chép về long mạch, huyệt đạo tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ (như Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây); và tìm hiểu giá trị khoa học, văn hóa của các văn bản hình thành từ thời trung đại cho đến đầu thế kỷ XX.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến Kham dư theo các phân nhóm địa lý và lịch sử:
Tại Trung Quốc, các công trình cổ trung đại tiêu biểu gồm có: Thôi quan thiên của Lại Văn Tuấn (thời Tống), Kham dư biện hoặc của Từ Bột (thời Minh), Táng kinh chú của Ngô Nguyên Âm (thời Thanh). Đến giai đoạn cận - hiện đại, có các tác phẩm nghiên cứu lý luận và thực hành như: Đại tam nguyên huyền không phong thủy của Đàm Dưỡng Ngô (xuất bản năm 1923 và 1924); Phong thủy tùy bút của Bạch Hạc Minh (1983); Sự phát triển mở rộng của văn hóa Phong thủy đời Tống của Lưu Tường Quang; Nghiên cứu lý luận Phong thủy do Vương Kỳ Hanh chủ biên (1992); Phong thủy toàn thư Trung Quốc của Thiệu Vĩ Hoa (2004); Văn hóa Phong thủy Trung Quốc của Cao Hữu Khiêm; và Phong thủy Dương trạch chỉ nam của Hồ Triệu Đài (2015).
Tại Việt Nam, nguồn tư liệu thành văn cổ và các thư mục lịch sử ghi nhận sự xuất hiện của môn địa lý qua: Trùng đính thiên Nam danh địa (soạn năm 1678); Hòa Chính địa lý của Lê Hoàng; Bạch Vân Am tiên sinh địa lý chính truyện trong Quách thị gia tàng; mục ghi chép về Tả Ao trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án; Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca (in năm 1897); mục Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; sách Nam hải dị nhân và Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính; cùng tác phẩm La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn (1952) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp (1984).
Về các công trình dịch thuật và biên soạn hiện đại, tác giả tổng thuật các bản dịch sách chữ Hán của Vương Ngọc Đức (Trương Huyền dịch, 1996), Ngô Bạch (Trương Huyền dịch, 1997), Hồ Kinh Quốc (Nguyễn An và Nguyễn Văn Mậu dịch, 2001), Lưu Bá Ôn (Lê Khánh Trường, Lê Việt Anh dịch, 2001; Anh Vũ, Kim Đồng dịch, 2002), Tống Thiều Quang (Nguyễn Văn Đức dịch, Nguyễn Quốc Khánh hiệu đính, 2002), Du Khổng Kiên (2005), Thạch Sơn Thủy (2008), Vu Dũng và Vu Hy Hiền (2010), Vương Quân Vinh (2011), Triệu Ngọc Tài (Thu Hiền dịch, 2013). Cùng với đó là các bản dịch từ tác giả phương Tây như Terah Kathryn Collins (2001), Gill Hale (2006), Lillian Too (2008, 2012), Raymond Lo (2008), Cheryl Grace (2014). Về biên soạn trong nước, có các tập sách của Cao Trung (1969, 1974, 1975, 1998), Ngô Nguyên Phi (2000), Vương Thị Mười (2005, 2006), Trần Mạnh Linh (2007), Vũ Đức Huynh (2010, 2013, 2014).
Về nghiên cứu văn bản học và học thuật Hán Nôm, bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Trần Nghĩa, François Gros đồng chủ biên, 1993) đã biên mục sơ bộ các văn bản; bài viết của Thọ Nhân (2001) trên Tạp chí Hán Nôm bàn về triết học môi trường phương Đông; cùng các bài viết nghiên cứu của chính tác giả Nguyễn Quốc Khánh (2015, 2016, 2017) về tác giả Tả Ao và tác phẩm Tả Ao chân truyền địa lý.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết bao gồm: khắc phục tình trạng thiếu khảo sát văn bản học thực tế trên nguồn tài liệu gốc; xử lý vấn đề trùng lặp nội dung và khuyết danh/thiếu xuất xứ trong các ấn phẩm dịch thuật; tiến hành định lượng và hệ thống hóa toàn bộ văn bản Kham dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; xác định các thiện bản đáng tin cậy; và mở rộng diện nghiên cứu sang các tác gia Hán Nôm ngoài Tả Ao như Chu Văn An, Lê Hoàng, Nguyễn Đức Huyên, Trịnh Tùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích, luận án dựa trên quan điểm của Nhà nước Việt Nam về việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống. Luận án tiếp cận đối tượng từ góc độ liên ngành giữa Ngữ văn Hán Nôm, Văn bản học, Văn hóa học, Văn hiến học, Kham dư học và Phiên dịch học. Về mặt lý thuyết chuyên ngành Kham dư, tác giả phân tích hai trường phái cơ bản:
- Phái Hình thế (phái Loan đầu): Do Dương Quân Tùng, Tăng Văn Thuyên, Lại Đại Hữu, Tạ Tử Nghĩa sáng lập, chủ yếu chú trọng các yếu tố long, huyệt, sa, thủy, hướng; vận dụng "phép xem núi nếm nước" và "phép sơn hoàn thủy bão" để quan sát hình thế tự nhiên của núi sông, dựa vào quy luật tụ khí và vận hành của khí.
- Phái Lý khí: Lấy Hà Đồ phối Lạc Thư, Tiên thiên Bát quái phối Hậu thiên Bát quái; lấy Bát quái, 12 Địa chi, Thiên tinh và Ngũ hành làm Tứ cương; sử dụng la bàn để định phương vị, phân định sinh khắc, kết hợp các thuyết Dịch lý, Âm dương, Tinh tú, Thần sát, Nạp âm.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính kết hợp thống kê tư liệu văn bản học, bao gồm các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp văn bản học: Khảo sát hình thức vật lý, tình trạng văn bản, chữ viết, khuôn khổ, niên đại, tác quyền; thống kê số lượng văn bản, đối chiếu các bản chép tay và bản in để nhận diện dị bản và xác định thiện bản.
- Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học): Giải thích thuật ngữ, giải nghĩa văn tự Hán Nôm, phiên dịch và minh giải các bài ca quyết, đồ hình phong thủy cổ.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Nghiên cứu liên văn bản giữa các tác phẩm Kham dư với nhau và giữa văn bản Kham dư với các bộ sử sách, địa chí, gia phả.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp các dữ liệu lịch sử, văn hóa, tôn giáo (tam giáo đồng nguyên) và phong tục tập quán để đánh giá nội dung tác phẩm.
Nguồn tư liệu thực tế của luận án gồm 46 tác phẩm với 60 văn bản Kham dư Hán Nôm được khai thác trực tiếp tại kho lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (gồm các ký hiệu A., VHv., VHb., AB.), cùng tác phẩm Thiên Nam địa lý cách ngôn toàn tập (ký hiệu R.2221) tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, kết hợp các tài liệu cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Quản Tử, Hán thư, Sử ký.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hướng nghiên cứu
Nội dung chương 1 giải thích nguồn gốc và khái niệm Kham dư. Thuật ngữ Kham dư ban đầu là tên thần, sau chỉ trời đất (Kham là đạo trời, dư là đạo đất theo Hứa Thận), từ thời Tùy - Đường trở đi được dùng để chỉ thuật tướng trạch và tướng mộ, tương đương với thuật ngữ Phong thủy trong dân gian.
Chương này trình bày quá trình du nhập và phát triển của Kham dư tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử:
- Thời Bắc thuộc: Gắn liền với sự cai trị của quan lại đô hộ, tiêu biểu là viên An Nam Đô hộ sứ Cao Biền (đời Đường, giai đoạn 865 - 875) với các ghi chép trấn yểm long mạch tại miền Bắc.
- Thời nhà Đinh (968 - 980): Vua Đinh Tiên Hoàng cử An phủ sứ Trần Quốc Kiệt soạn sách Thiên Nam hình thắng ca và chú giải sách của Cao Biền.
- Thời nhà Lý (1010 - 1225): Đánh dấu bằng việc định đô Thăng Long qua Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn với các tiêu chí phong thủy "rồng chầu hổ phục", cùng sự xuất hiện của sách Dã đàm của Mâu Du Đô.
- Thời nhà Trần (1225 - 1400): Năm 1248 (Mậu Thân), triều đình cử các nhà Kham dư đi xem núi sông để trấn yểm; xuất hiện trước tác của Chu Văn An.
- Thời Lê sơ - Mạc - Lê Trung hưng và Tây Sơn (thế kỷ XV - XVIII): Tư tưởng Nho giáo hòa quyện với phong thủy trong việc phụng dưỡng cha mẹ và mồ mả tổ tiên; sự kiện dựng chùa Thiên Mụ năm 1601 của chúa Nguyễn Hoàng; các tác gia tiêu biểu như Lê Hoàng, Nguyễn Đức Huyên, Trịnh Tùng.
- Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945): Hoạt động xem xét địa lý phong thủy trong quy hoạch thành trì và sông đào (như hội khám sông Vĩnh Điện, Quảng Nam).
- Thế kỷ XX đến nay: Sự thâm nhập của kiến trúc hiện đại và sự tiếp tục ứng dụng của phong thủy trong xây dựng.
Chương 1 cũng tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra các điểm hạn chế của các công trình đi trước và xác định các định hướng nghiên cứu trọng tâm của luận án.
Chương 2: Khảo sát văn bản Kham dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chương 2 tiến hành mô tả chi tiết 46 tác phẩm phân bố trong 60 văn bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bảng dưới đây tổng hợp một số văn bản đại diện được tác giả khảo sát:
| STT |
Tên tác phẩm chữ Hán / Nôm |
Ký hiệu |
Tác giả ghi trong văn bản |
Loại hình / Tình trạng |
Số trang / Khổ (cm) |
Niên đại văn bản |
| 1 |
An Nam cửu long ca 安南九龍歌 |
VHv.482 |
Cao Biền |
Chép tay chân phương |
100 tr. / 28 x 16 |
Không ghi niên đại |
| 2 |
An Nam cửu long kinh 安南九龍經 |
A.1050 |
Cao Biền |
Chép tay |
398 tr. / 29 x 20 |
Không ghi niên đại |
| 3 |
An Nam địa cảo lục 安南地稿錄 |
A.1065 |
Cao Biền |
Chép tay chân phương |
148 tr. / 30 x 21 |
Không ghi niên đại |
| 4 |
An Nam phong thủy 安南風水 |
A.693 |
Khuyết danh |
Chép tay, có hình vẽ |
310 tr. / 30 x 21 |
Gia Khánh 23 (1818) |
| 5 |
Bát cẩm trạch bảo thư 八錦宅寶書 |
VHb.88 |
Khuyết danh |
Chép tay chân phương |
28 tr. / 15 x 12 |
Không ghi niên đại |
| 6 |
Bát trạch bị khảo 八宅備考 |
AB.16 |
Khuyết danh |
Bản in (Thành Lợi, HN) |
20 tr. / 27 x 16 |
Thành Thái 11 (1899) |
| 7 |
Cao Biền di cảo 高駢遺稿 |
A.2898 |
Cao Biền |
Chép tay chân phương |
80 tr. / 29 x 16 |
Không ghi niên đại |
| 8 |
Chân Lộc Bảo Đài Nguyễn tiên sinh đắc đạo thư |
VHb.81 |
Nguyễn tiên sinh |
Chép tay chân phương |
192 tr. / 18 x 15 |
Tự Đức 29 (1876) |
| 9 |
Địa học trích anh 地學摘英 |
A.454/1-3 |
Tả Ao |
Chép tay, có hình vẽ |
3 quyển / 34 x 23 |
Không ghi niên đại |
| 10 |
Địa lý bình dương tinh yếu 地理平陽精要 |
A.1208 |
Hoàng Đạo Đức |
Bản in (Nghĩa Lợi, HN) |
80 tr. / 26 x 15 |
Khải Định 4 (1919) |
| 11 |
Địa lý di cảo 地理遺稿 |
A.536 |
Cao Biền (Hoàng Phúc chú) |
Chép tay chân phương |
326 tr. / 32 x 22 |
Không ghi niên đại |
| 12 |
Địa lý đồ chí 地理圖志 |
A.1511 |
Khuyết danh |
Bản in mộc bản |
280 tr. / 26 x 15 |
Bảo Thái 2 (1721) |
| 13 |
Địa lý Hoàng Phúc cảo 地理黃福稿 |
VHv.484 |
Hoàng Phúc |
Bản in, có chữ Nôm |
84 tr. / 25 x 15 |
Bảo Thái 2 (1721) |
| 14 |
Địa lý tiện lãm 地理便覽 |
A.605 |
Cao Biền (Hoàng Phúc chú) |
Chép tay chân phương |
240 tr. / 31 x 21 |
Không ghi niên đại |
| 15 |
Địa lý quý cơ chân truyền 地理貴機真傳 |
AB.300 |
Tả Ao |
Chép tay, chữ Nôm |
218 tr. |
Không ghi niên đại |
| 16 |
Hòa Chính địa lý 和正地理 |
A.2153 |
Lê Hoàng (Hòa Chính) |
Chép tay, 50 hình vẽ |
204 tr. / 30 x 19 |
Không ghi niên đại |
| 17 |
Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp |
A.1405 |
Lê Hoàng (Hòa Chính) |
Chép tay, có hình vẽ |
142 tr. / 30 x 19 |
Không ghi niên đại |
| 18 |
Quách thị địa lý tiết yếu 郭氏地理節要 |
A.1051 |
Quách Phác, Tả Ao |
Chép tay, chữ Nôm |
448 tr. / 29 x 20 |
Duy Tân 10 (1916) |
| 19 |
Tả Ao chân truyền địa lý 左泑真傳地理 |
VHv.783 |
Tả Ao (Diên Tự hiệu đính) |
Bản in (Nghĩa Lợi, HN) |
5 bản / 26 x 15 |
Khải Định 4 (1919) |
| 20 |
Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư |
A.843 |
Chu Văn An |
Chép tay (Lê Xuân Cát) |
598 tr. / 29 x 20 |
Bản chép năm 1850 |
| 21 |
Thiên Nam long thủ lục 天南龍首錄 |
A.220 |
Phạm Lập Trai |
Chép tay chân phương |
40 tr. / 31 x 21 |
Không ghi niên đại |
| 22 |
Trịnh Tùng vấn phong thủy sách văn |
A.2265 |
Trịnh Tùng, Hòa Chính |
Chép tay chân phương |
22 tr. / 29 x 17 |
Không ghi niên đại |
| 23 |
Trùng đính thiên Nam danh địa |
VHv.1927 |
Khuyết danh |
Chép tay chân phương |
150 tr. / 29 x 16 |
Chính Hòa 3 (1678) |
Về đặc điểm văn bản học, tác giả chỉ ra các văn bản phần lớn là bản chép tay bằng chữ Hán chân phương, kết hợp chữ Nôm; một số lượng nhất định là bản in khắc gỗ xuất bản vào thời Lê (niên hiệu Bảo Thái năm 1721) hoặc in ấn vào đầu thế kỷ XX tại Hà Nội (các nhà in Thành Lợi, Nghĩa Lợi, Liễu Văn Đường). Các văn bản có cấu trúc đan xen giữa văn xuôi, phú, ca quyết lục bát hoặc song thất lục bát nhằm mục đích dễ ghi nhớ trong truyền khẩu; nhiều tác phẩm có bản vẽ hình thế đất, sơ đồ huyệt trường và đồ hình bát quái. Về mặt khảo chứng thư tịch, tác giả hiệu đính nhiều sai sót trong Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (TMĐY): khẳng định tên văn bản VHv.482 là An Nam cửu long ca dựa vào tiêu đề dòng chữ lớn ở trang đầu thay vì An Nam cửu long kinh; văn bản A.1511 mang tên chính xác là Địa lý đồ chí; văn bản VHv.596 là Địa lý tâm ấn bí chỉ thiên chứ không phải Lĩnh Nam Nguyễn thị tâm ấn bí chỉ thiên; văn bản VHb.76 là Địa lý gia truyền chứ không phải Tả Ao địa lý.
Về nội dung cơ bản, văn bản phản ánh 6 nhóm đề mục học thuật:
- Nội dung về Âm Dương - Ngũ hành: Giải thích sự biến đổi của khí trời và đất, quy luật tương sinh tương khắc chi phối địa hình.
- Nội dung về la bàn: Cách sử dụng la bàn (la kinh) phân định 24 sơn hướng, phân kim toạ độ, thấu địa cửu tinh.
- Nội dung về long mạch: Quan niệm về tam đại cán long, khởi nguyên từ tổ sơn, hành độ của mạch núi, cán long, chi long.
- Nội dung về huyệt: Phép nhận biết huyệt trường, điểm huyệt, sa pháp, thủy pháp (minh đường tụ thủy).
- Nội dung về Dương trạch: Thuật chọn đất dựng kinh đô, đặt làng xóm, đình chùa, xây dựng nhà cửa, quy định hướng cổng, buồng ngủ, nhà bếp.
- Nội dung về Âm trạch: Phép tìm đất mồ mả, táng thức, các thế đất kết phát quan tước, khoa bảng, phú quý.
Chương 3: Nghiên cứu một số tác gia Kham dư Hán Nôm Việt Nam
Chương 3 khảo sát thân thế, sự nghiệp và các trước tác Kham dư của 4 tác gia cụ thể có tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
- Chu Văn An: Nhà nho thời Trần. Luận án khảo sát tác phẩm Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư (các ký hiệu A.843, VHv.2711, VHv.2712). Văn bản ghi nhận tác phẩm gồm 28 chương lý luận địa đạo, 96 cách xem hình thế huyệt, 10 chương xem thiên văn và 7 bài thuốc Nam chữa bệnh, phản ánh sự kết hợp giữa tri thức kham dư với y học cổ truyền.
- Nguyễn Đức Huyên: Khảo sát hoàn cảnh xuất thân và các tác phẩm kham dư ghi nhận dòng họ và thực hành địa lý.
- Lê Hoàng (hiệu Hòa Chính Tử, người xã Thanh Cương, huyện Sơn Minh, trấn Sơn Nam): Tác giả sang Trung Quốc tiếp thu sách phong thủy rồi truyền bá về Việt Nam, để lại các trước tác tiêu biểu như Hòa Chính địa lý (A.2153, gồm 204 trang với 50 hình vẽ) và Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp (A.1405, ghi chép 132 kiểu đất phát quan võ, hầu tước tại 116 xã thuộc Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh).
- Trịnh Tùng: Nhà chính trị thời Lê Trung hưng (Bình An Vương). Luận án khảo cứu tác phẩm Trịnh Tùng vấn phong thủy sách văn (A.2265, gồm 22 trang), ghi chép câu hỏi sách văn của Trịnh Tùng gửi tới Hòa Chính về thuật phong thủy và 4 bài phụng đối trả lời của Hòa Chính, thể hiện sự quan tâm của giới thống trị đối với kham dư trong việc định đô và hưng suy vương triều.
Chương 4: Nghiên cứu giá trị nội dung của tác phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam
Chương 4 tập trung phân tích hai phương diện giá trị cơ bản:
Thứ nhất, giá trị nội dung học thuật và tư tưởng:
- Tinh thần hòa đồng tư tưởng Nho, Phật, Đạo: Tác phẩm kham dư dung nạp quan niệm nhân quả luân hồi của Phật giáo, thuyết âm dương khí hóa và thần sát của Đạo giáo, cùng luân thường đạo lý Nho gia.
- Sự kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa: Tục thờ cúng tổ tiên, niềm tin vào sự che chở của anh linh người đã khuất và các vị thần thủ huyệt sông núi.
- Tinh thần đạo hiếu của Nho gia: Việc tìm đất an táng cho cha mẹ không chỉ nhằm cầu phúc mà trước hết là bổn phận hiếu kính, giúp xương cốt tổ tiên được an nghỉ nơi khô ráo, tụ khí.
- Những mạch đất phát về khoa cử: Các văn bản (tiêu biểu như Thiên Nam long thủ lục, Trùng đính thiên Nam danh địa) ghi lại các kiểu đất kết phát Trạng nguyên, Bảng nhãn, Tiến sĩ gắn với danh nhân lịch sử (Nguyễn Hiền, Trương Sáu, Bạch Liêu, Nguyễn Trực, Vũ Duệ...), phản ánh truyền thống hiếu học và sự coi trọng khoa bảng của xã hội Việt Nam thời phong kiến.
- Mối quan hệ hài hòa giữa con người với cảnh quan môi trường: Tư tưởng "thiên nhân hợp nhất", tôn trọng quy luật tự nhiên, chọn nơi cư trú cao ráo, tránh ngập úng, tránh gió độc, đón ánh sáng mặt trời và gần nguồn nước ngọt.
Thứ hai, ứng dụng nội dung Kham dư trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt:
- Quan niệm cát hung trong Dương trạch: Hướng dẫn bố cục không gian làng xã, đền đình, quy cách cổng ngõ, phương vị phòng ốc nhằm tạo môi trường sống thông thoáng, an toàn.
- Quan niệm cát hung trong Âm trạch: Các nguyên tắc táng huyệt, tránh thế đất xấu (đoàn long, đoạn mạch, gió thổi tụ khí phân tán), bảo đảm sự an ổn tâm lý cho thân nhân.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo công bố của tác giả, luận án mang lại những kết quả và đóng góp mới sau:
- Lần đầu tiên thống kê định lượng, phân loại và khảo sát so sánh toàn diện 46 tác phẩm với 60 văn bản Kham dư Hán Nôm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm dưới giác độ văn bản học.
- Phân tích đặc điểm văn bản, đính chính các nhầm lẫn trong các công trình thư mục trước đây (nhất là Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu) và xác định các thiện bản đáng tin cậy.
- Cung cấp số liệu khảo cứu về các hệ thống huyệt mạch (mạch chính, mạch bàng, mạch phát quan, mạch phát quý phi, mạch phát phú quý) được ghi chép trong văn bản.
- Khảo cứu thân thế, sự nghiệp và tác phẩm của các tác gia Kham dư Hán Nôm tiêu biểu như Chu Văn An, Nguyễn Đức Huyên, Lê Hoàng và Trịnh Tùng trên cơ sở tài liệu gốc.
- Làm sáng tỏ các giá trị khoa học về môi trường, sinh thái học cổ truyền và phong tục tập quán trong tác phẩm Kham dư Việt Nam, chỉ ra tính khu biệt của phong thủy Việt Nam khi dung hợp với địa hình sông núi bản địa so với nguồn gốc Trung Hoa.
- Giới thiệu các long mạch cụ thể tại đồng bằng Bắc Bộ; cung cấp Bảng thuật ngữ Kham dư Hán Nôm; tuyển dịch toàn văn tác phẩm An Nam phong thủy (ký hiệu A.693).
- Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất việc tiếp tục bảo tồn, số hóa các văn bản Kham dư Hán Nôm; đẩy mạnh phiên dịch và nghiên cứu dưới góc nhìn liên ngành; chắt lọc các tri thức hợp lý về môi trường, cảnh quan để ứng dụng trong quy hoạch kiến trúc cổ và kiến trúc đương đại; đồng thời phê phán và loại bỏ các yếu tố mê tín dị đoan suy diễn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản cho thấy luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát trực tiếp tại kho tư liệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm (và một tác phẩm tại Thư viện Quốc gia Việt Nam), chưa thể bao quát hết toàn bộ khối lượng thư tịch Kham dư còn lưu tán trong các dòng họ và nhân dân trên cả nước. Thêm vào đó, do đặc thù thư tịch phong thủy cổ có nhiều hiện tượng sao chép, dị bản và tình trạng thác danh các nhân vật lịch sử (như Cao Biền, Tả Ao), việc xác định tuyệt đối năm khởi thảo và tác giả nguyên thủy của một số văn bản khuyết danh vẫn còn là thách thức.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả định hướng:
- Mở rộng phạm vi điền dã, sưu tầm các văn bản Kham dư Hán Nôm còn lưu giữ trong gia phả, đền miếu và tư gia ở các địa phương.
- Tiếp tục phiên dịch, khảo chú toàn bộ các tác phẩm Kham dư Hán Nôm có giá trị lịch sử cao.
- Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu sâu hơn giữa văn bản Kham dư Việt Nam với các thư tịch phong thủy kinh điển tại Trung Quốc và khu vực Đông Á.
- Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành giữa văn bản học Hán Nôm với địa lý nhân văn, kiến trúc cảnh quan và tâm lý học văn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng và lĩnh vực chuyên môn cụ thể:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Hán Nôm và Văn bản học: Tham khảo phương pháp mô tả thư tịch, kỹ thuật phân biệt dị bản, giám định thiện bản và cách xử lý văn bản khuyết danh hoặc thác danh tại Chương 2.
- Các nhà nghiên cứu Lịch sử, Văn hóa học và Tôn giáo tín ngưỡng: Khai thác tư liệu về 4 tác gia ở Chương 3 (đặc biệt là tư liệu về Chu Văn An và văn bản vấn đáp của chúa Trịnh Tùng), cùng các phân tích về sự dung hợp Tam giáo và phong tục mộ táng ở Chương 4.
- Các nhà nghiên cứu kiến trúc truyền thống và quy hoạch cảnh quan: Vận dụng các nguyên tắc cổ truyền về hình thế núi sông, hướng gió, dòng chảy và chọn thế đất cư trú được đúc kết trong văn bản.
- Phần phụ lục với Bảng thuật ngữ Kham dư Hán Nôm và bản dịch tác phẩm An Nam phong thủy (A.693) là công cụ tra cứu văn bản hữu ích cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu Hán Nôm.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát tổng cộng bao nhiêu tác phẩm và văn bản Kham dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm?
Luận án tiến hành mô tả, phân loại và khảo sát 46 tác phẩm phân bố trong 60 văn bản hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bao gồm cả bản chép tay và bản in mộc bản.
2. Hai trường phái lý luận cơ bản của Kham dư học được luận án phân tích gồm những phái nào?
Luận án phân tích hai trường phái chính: phái Hình thế (phái Loan đầu do Dương Quân Tùng, Tăng Văn Thuyên sáng lập, chú trọng quan sát long mạch, hình thế núi sông, sa pháp, thủy pháp) và phái Lý khí (chú trọng dùng la bàn, vận dụng Kinh Dịch, âm dương ngũ hành, Bát quái, Hà đồ, Lạc thư, thiên tinh và thần sát).
3. Bốn tác gia Kham dư Hán Nôm Việt Nam được nghiên cứu chuyên sâu trong Chương 3 là ai?
Bốn tác gia được nghiên cứu gồm: danh nho Chu Văn An (với tác phẩm Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư), Nguyễn Đức Huyên, Lê Hoàng (hiệu Hòa Chính Tử, tác giả sách Hòa Chính địa lý) và chúa Trịnh Tùng (với văn bản Trịnh Tùng vấn phong thủy sách văn).
4. Luận án đã đính chính những điểm nhầm lẫn nào trong bộ "Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu"?
Tác giả đã chỉ ra văn bản VHv.482 có tên chính xác ở đầu sách là An Nam cửu long ca chứ không phải An Nam cửu long kinh; văn bản A.1511 chỉ có một tên chính là Địa lý đồ chí chứ không tách thành các tên lẻ; văn bản VHv.596 là Địa lý tâm ấn bí chỉ thiên chứ không phải Lĩnh Nam Nguyễn thị tâm ấn bí chỉ thiên; và văn bản VHb.76 có tiêu đề thực tế là Địa lý gia truyền chứ không phải Tả Ao địa lý.
**5. Tác phẩm Kham dư nào được tác giả lựa