Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chuyên sâu về văn bản Kham Dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản Kham Dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, phân tích sâu về giá trị lịch sử và văn hóa.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

257
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hướng nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc trình bày nguồn gốc và khái niệm của Kham Dư, một môn khoa học về môi trường và cuộc sống. Kham Dư có nguồn gốc từ Trung Quốc, bắt đầu từ hoạt động lựa chọn nơi cư trú của người nguyên thủy và phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử. Từ thời Tiên Tần, Kham Dư đã được phát triển và lưu hành rộng rãi, đặc biệt dưới thời Minh - Thanh. Chương này cũng đề cập đến hai phái chính trong Kham Dư: phái Hình thế và phái Lý khí. Phái Hình thế chú trọng vào việc lựa chọn hình thế núi sông, trong khi phái Lý khí tập trung vào các yếu tố như phương vị và các nguyên lý của Ngũ hành. Việc nghiên cứu Kham Dư không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong đời sống hiện đại.

1.1 Nguồn gốc và khái niệm Kham Dư

Nguồn gốc của Kham Dư có thể truy ngược đến thời kỳ nguyên thủy, khi con người đã biết lựa chọn địa điểm cư trú phù hợp với môi trường tự nhiên. Khái niệm Kham Dư không chỉ đơn thuần là phong thủy mà còn bao hàm nhiều yếu tố văn hóa, triết học và khoa học. Theo các tài liệu cổ, Kham Dư được coi là sự kết hợp giữa đạo trời và đạo đất, phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Việc nghiên cứu khái niệm này giúp hiểu rõ hơn về vai trò của Kham Dư trong văn hóa và đời sống tâm linh của người Việt Nam.

II. Khảo sát văn bản Kham Dư Hán Nôm Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Chương này tiến hành khảo sát các văn bản Kham Dư Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các văn bản này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn chứa đựng nhiều kiến thức quý báu về Âm Dương, Ngũ hành, và các yếu tố khác liên quan đến phong thủy. Việc phân tích các văn bản này giúp xác định những đặc điểm nổi bật và nội dung cơ bản của Kham Dư Hán Nôm Việt Nam. Các nội dung như long mạch, huyệt đạo, và các khái niệm về Dương trạch và Âm trạch được làm rõ, từ đó góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

2.1 Đặc điểm văn bản Kham Dư Hán Nôm

Các văn bản Kham Dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thể hiện sự phong phú và đa dạng về nội dung. Chúng không chỉ phản ánh tri thức phong thủy mà còn chứa đựng các quan niệm văn hóa, tín ngưỡng của người Việt. Việc khảo sát và phân tích các văn bản này giúp làm sáng tỏ những giá trị văn hóa và lịch sử, đồng thời cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về Kham Dư trong bối cảnh hiện đại.

III. Nghiên cứu một số tác gia Kham Dư Hán Nôm Việt Nam

Chương này giới thiệu về một số tác gia tiêu biểu trong lĩnh vực Kham Dư Hán Nôm tại Việt Nam, như Chu Văn An, Nguyễn Đức Huyên, Lê Hoàng và Trịnh Tùng. Mỗi tác giả đều có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển và truyền bá tri thức về Kham Dư. Việc nghiên cứu thân thế và sự nghiệp của các tác giả này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử mà còn làm nổi bật những giá trị văn hóa và tri thức mà họ để lại cho thế hệ sau.

3.1 Tác giả Chu Văn An

Chu Văn An là một trong những tác giả nổi bật trong lĩnh vực Kham Dư Hán Nôm. Ông không chỉ là một nhà giáo dục mà còn là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến tri thức phong thủy tại Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường mang tính chất tổng hợp, kết hợp giữa triết lý Nho giáo và các yếu tố phong thủy, từ đó tạo ra một hệ thống tư tưởng độc đáo và có giá trị thực tiễn cao.

IV. Nghiên cứu giá trị nội dung của tác phẩm Kham Dư Hán Nôm Việt Nam

Chương này phân tích giá trị nội dung của các tác phẩm Kham Dư Hán Nôm Việt Nam, đặc biệt là những giá trị văn hóa, tư tưởng và khoa cử. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh tri thức phong thủy mà còn thể hiện tinh thần hòa đồng giữa các tư tưởng Nho, Phật, Đạo. Việc nghiên cứu giá trị nội dung của Kham Dư giúp làm rõ ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam.

4.1 Giá trị văn hóa và tư tưởng của Kham Dư

Giá trị văn hóa của Kham Dư Hán Nôm Việt Nam thể hiện qua các quan niệm về cát hung trong Dương trạch và Âm trạch. Những quan niệm này không chỉ ảnh hưởng đến cách xây dựng nhà cửa mà còn phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và tri thức của người Việt. Việc nghiên cứu những giá trị này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào việc phát triển văn hóa đương đại.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản kham dư hán nôm việt nam tại viện nghiên cứu hán nôm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU Kham dư là môn khoa học về môi trường và cuộc sống, không những chỉ áp dụng cho thời xưa, mà còn áp dụng cho cả ngày nay. Do nhận thức được điều đó, nên các nhà nghiên cứu trước đây đã sớm tìm hiểu, nghiên cứu. Vì vậy, ở chương này tập trung giới thiệu khái quát về nguồn gốc, quá trình phát triển và tình hình nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài của các nhà nghiên cứu đi trước, trên cơ sở đó kế thừa và tiếp thu để phát triển hệ thống cho luận án. Nguồn gốc, khái niệm Kham dư 1.

Nguồn gốc của Kham dư Kham dư khởi nguồn ở Trung Quốc từ hoạt động lựa chọn nơi cư trú của người nguyên thủy, được thai nghén qua thời Tiên Tần, phát triển vào thời Hán, lưu hành vào thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc Triều và truyền bá rộng rãi dưới thời Tùy - Đường Ngũ đại, hưng thịnh dưới thời Minh - Thanh. Về cơ bản, Kham dư học có thể chia làm hai phái là Hình thế (phái Loan đầu) và Lý khí. Phái Hình thế: Phái này do Dương Quân Tùng 楊筠松, Tăng Văn Thuyên 曾 文遄, Lại Đại Hữu 賴大有, Tạ Tử Nghĩa 謝子義… người Giang Tây sáng lập. Phái Hình thế chú trọng long, huyệt, sa, thủy và định hướng, tìm long mạch, hình tượng hóa đặc trưng của địa hình, địa thế, dựa vào hình thế tự nhiên mà đặt tên.

Ứng dụng thực tiễn của phái Hình thế rất phong phú, điều kiêng kỵ rất ít, nội dung lại dễ hiểu, vì vậy được lưu truyền rộng rãi. Lý luận của phái Hình thế chủ yếu liên quan đến môi trường tự nhiên như đất đai, mạch núi, hướng chảy, hình dáng và số lượng dòng chảy. Sau thời nhà Đường, phái Hình thế chủ yếu phát triển mạnh ở Giang Tây. Phái Hình thế chú trọng việc lựa chọn hình thế núi sông và môi trường tự nhiên bên ngoài nhà ở, phương pháp chủ yếu là “phép xem núi nếm nước 看山嘗水法” và “phép sơn hoàn thủy bão 山環水抱法”.

Lý luận là Âm Dương giao hòa, núi non bao bọc, gần nguồn nước ắt sẽ có khí. Khí dựa vào thế mà vận hành, dựa vào hình mà dừng, hình là sự tổng kết về thế. Thế là chỉ hình 7 dáng mấp mô nối tiếp từ điểm khởi nguồn của long mạch tới long huyệt. So với hình thì hình gần thế xa, hình nhỏ thế lớn, cho nên muốn bàn về hình thì trước tiên phải quan sát thế.

Phái Lý khí: Nội dung của phái Lý khí rất linh hoạt và có khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Những kiến thức của phái Lý khí rất quan trọng trong việc tìm hiểu về Kham dư, đây cũng là cơ sở để tìm hiểu về Kham dư hiện đại. Phái Lý khí coi Hà Đồ là chủ thể, sau đó phối với Lạc Thư 洛書 coi Tiên thiên Bát quái 先天八卦 là chủ thể, sau đó phối với Hậu thiên Bát quái 後天八卦; coi Bát quái, 12 Địa chi, Thiên tinh và Ngũ hành là Tứ cương, chú trọng phương vị và có rất nhiều điều cần kiêng kỵ. Phái Lý khí chú trọng việc dùng la bàn để xác định phương hướng, sơn Dương hướng Dương, sơn Âm hướng Âm, không được nhầm lẫn để định sinh khắc.

Phái Lý khí là phái phức tạp, nội dung lý luận dường như bao gồm toàn bộ Dịch lý 易理, Âm dương 陰陽, Ngũ hành 五行, Hà đồ 河圖, Lạc thư 洛書, Bát quái 八卦, Tinh tú 星宿, Thần sát 神殺, Nạp âm 納音, Kỳ môn 奇門 đều là cơ sở và nguyên lý của phái Lý khí. Phái Lý khí có rất nhiều môn phái, ngoài các môn phái lớn như phái Bát trạch, phái Mệnh lý, phái Tam hợp, phái Phiên quái, phái Ngũ hành, phái Huyền không phi tinh, trong đó quan trọng nhất là ba phái Tam nguyên, Tam hợp và Thiên tinh. Tuy có nhiều môn phái, nhưng cơ sở lý luận giữa chúng tương hỗ lẫn nhau. Như vậy, dù là phái Hình thế hay phái Lý khí thì cũng đều tuân thủ theo những nguyên tắc chung, đó là nguyên tắc Thiên 天 - Địa 地- Nhân 人 hợp nhất, nguyên tắc cân bằng Âm và Dương, nguyên tắc Ngũ hành tương sinh tương khắc.

Lý luận của phái Hình thế và phái Lý khí cũng ảnh hưởng lẫn nhau, dung hội trong nhau. Bởi vậy, khi nghiên cứu Kham dư cần phải tiếp thu được tinh hoa của cả hai phái này. Khái niệm Kham dư Kham dư: Ban đầu là tên một vị thần, sau chỉ Phong thủy, Hán thư, Dương Hùng truyện viết: "Kham dư là tên gọi chung trời đất, còn là thần sáng tạo đồ trạch thư". Cam tuyền phú viết: "Hoài Nam Tử nói Kham dư "hành hùng (đực) để biết thư (cái).

Hứa Thận nói Kham là đạo trời, dư là đạo đất vậy". 8 Hán thư, Nghệ văn chí chép 14 quyển "Kham dư kim quĩ". Lũng Xuyên cho rằng sách Sử ký khảo chứng là "sách viết về phương vị Phong thủy". Sử ký, Nhật giả liệt truyện: "Thời Hiếu Võ đế, có triệu tập các nhà chiêm bốc hỏi ngày nọ có thể cưới vợ ? Các nhà ngũ hành đáp có thể; các nhà kham dư đáp không được".

Tùy thư, Kinh tịch chí có chép "Kham dư lịch chú", "Địa tiết kham dư", bàn về cách chọn ngày giờ. Đủ biết Kham dư thoạt đầu không phải là chuyên bàn về Phong thủy. Theo khảo chứng của các học giả thời nay, kham dư thoạt tiên chỉ tên 12 vị thần. Các nhà Kham dư căn cứ 12 vị thần ấy mà dự đoán cát hung.

Do dùng cách quan sát tượng trời để phán đoán cát hung dưới đất, nên Hứa Thận thời Đông Hán nói kham dư là đạo trời và đạo đất và có bao hàm nội dung Phong thủy. Từ thời Tùy Đường trở đi, người ta dần dần coi Tướng trạch và Tướng mộ là kham dư. Đời Thanh, Tiền Đại Hân trong sách Hằng ngôn lục viết: "Các nhà Kham dư thời cổ tức là các nhà "tướng trạch đồ mộ”thời cận đại, các nhà địa lý ngày nay"; chứng tỏ về sau người ta mới đưa nghĩa Phong thủy vào khái niệm Kham dư. Ngoài ra, các văn nhân sĩ đại phu quen dùng thuật ngữ Kham dư, còn dân gian thì gọi là Phong thủy3 [227, tr.

Trong luận án, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Kham dư tương đương với thuật ngữ Phong thủy và tùy từng văn cảnh mà sử dụng cho linh hoạt. Chi tiết về thuật ngữ Kham dư (xem Phụ lục 1). 3 堪輿:一作堪余,初為神名後指風水。《漢書· 揚雄傳》注謂﹕堪輿為天地總名。又 謂為造圖宅書之神。《文選·甘泉賦注》:《淮南子》曰: 堪輿行雄以知雌。許慎曰:堪,天 道也,輿,地道也。《漢書· 藝文志》子部五行 類著錄《堪輿金匱》十四卷,瀧川資言《史 記考証》認為此書是“說風水方位之書”。《史記· 日者列傳》﹕“孝武帝時,聚會占家 問之,某日可取婦乎?五行家曰可,堪輿家曰不可” 。《隋書· 經籍志》著錄有《堪餘歷 注》,《地節堪餘》等書,論占日占辰。可知堪輿初非尃 論風水。據當代學者考証,堪輿最初 為名神,共有十二位。堪輿家即据此十二神以判斷吉凶,屬于占家。因其通過觀察天象以 判斷下方相對地域的吉凶,故東漢許慎引伸堪輿為天道,地道,堪輿中也包括有部分關于風水 的內容。隋唐以後,遂漸以相宅墓為堪輿,而堪輿的本義反而湮沒了。清前大昕《恆言錄》 ﹕“古堪輿家即今選擇家,近世乃以相宅圖墓者當之。“說明以風水為堪輿乃是後起的含 義。另外,稱風水為堪輿,以文人士大夫所習用,大致可以說是風水的書面語, 民間仍多稱風 水。 9 1. Khái lược quá trình du nhập và phát triển của Kham dư Việt Nam 1.

Quá trình du nhập của Kham dư vào Việt Nam Cho đến nay chưa có tài liệu nào khẳng định chính xác thuật Kham dư được du nhập vào nước ta từ bao giờ? Nếu nói chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) là tính toán đến yếu tố Phong thuỷ thì thật chưa thoả đáng. Phải chăng khu lăng mộ Sĩ Nhiếp tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, cùng chuyện Mã Viện sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã dựng một cột đồng ghi “Đồng trụ triết, Giao Chỉ diệt 銅柱折,交趾滅” là thuật Phong thuỷ đã manh nha xuất hiện ở nước ta? Thế nhưng có thể khẳng định, Việt Nam do có địa thế tiếp giáp trực tiếp với Trung Hoa, nên đã sớm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hoá Trung Hoa. Cũng chính vì vậy mà bộ môn Phong thuỷ được du nhập vào Việt Nam cùng với sự xâm chiếm của người Trung Hoa, nổi bật nhất là Cao Biền (đời nhà Đường) được cử sang làm Giao Châu Đô hộ sứ từ năm 865 đến năm 875 (Công nguyên). Trong vòng 10 năm ông ta đã yểm ở đất Giao Châu một số huyệt chính phát đế và một số huyệt bàng phát quan để cho nước Nam không có người làm quan, làm vua và phải chịu sự cai trị của người Trung Hoa.

Thời đó, theo mật chỉ của vua Đường, Cao Biền đã đi đến hầu hết các vùng đất miền Bắc nước ta, vẽ và ghi lại tỉ mỉ những thế đất lớn, có thể phát tới Đế vương hoặc công hầu, khanh, tướng, rồi tìm cách triệt hạ, nhằm hạn chế không cho mảnh đất “địa linh nhân kiệt” nảy sinh ra những “anh hùng hào kiệt” nổi lên chống lại “thiên triều”. Tác phẩm của Cao Biền còn lại ở nước ta, hiện ở VNCHN còn các cuốn: An Nam cửu long kinh 安南 九龍經 (A.1050), An Nam cửu long ca 安南九龍歌 (VHv.482), An Nam địa cảo lục 安南地稿錄 (A.1065), Cao Biền di cảo 高駢遺稿 (A.2898), Hồng vũ địa cảo 洪武地稿 (VHv.1594), Vấn đáp sơn thủy phụ An Nam cửu long ca 問答山水附安 南九龍經歌 (A.1826), Địa lý di cảo 地理遺稿 (A.536), Địa lý tiện lãm 地理便覽 (A. Trên thực tế, theo chúng tôi con đường du nhập của Kham dư vào nước ta không chỉ dừng lại ở một lần du nhập, mà trải suốt quá trình lịch sử của đất nước thời trung đại. Kham dư luôn luôn du nhập bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Hành 10 trang của các quan lại đô hộ; người Việt Nam trực tiếp sang Trung Quốc học Kham dư; sự tao loạn trong các cuộc nội chiến ở Trung Quốc đã khiến một số dòng họ di cư chạy sang Việt Nam lánh nạn trong đó có những dòng họ chính tông môn phái về Phong thuỷ học, Khí công học, Võ công và Tử vi học, v.v… hoặc cũng có thể một phần do các nhà sư (cả Ấn Độ và Trung Quốc) khi sang thuyết giảng và truyền bá đạo Phật cũng truyền bá luôn thuật Phong thuỷ cho người bản địa.

Tình hình phát triển của Kham dư ở Việt Nam Về tình hình phát triển của Kham dư ở Việt Nam, sách Trùng đính thiên Nam danh địa 重訂天南名地 (ký hiệu VHv.35a] viết: “Nước ta từ khi trời mở ra “trời Nam” trở lại đây, thì địa dư và hình thế đã có sử sách ghi chép vào thời Đường Hiến Tông (806 - 821) vào năm Hàm Thông có sai quan Thượng thư Bộ Công là Cao Biền 高駢 làm chức An Nam Đô hộ tổng quản, Kinh lược chiêu thảo sứ viết ra sách An Nam cửu long kinh 安南九龍經 và sách Vịnh cảo tập 詠稿集”. 4 Đến thời nhà Đinh (968 - 980), tình hình Kham dư đã phát triển. Vua Đinh Tiên Hoàng (968 - 979) đã sai quan An phủ sứ Kiêm Đông Đô viện là Trần Quốc Kiệt 陳國傑 biên soạn sách Thiên Nam hình thắng ca 天南形勝歌 và giao cho ông chú giải sách cũ của Cao Biền. Sang đến thời kỳ nhà Lý (1010 - 1125): Từ năm 1010 đã lấy Thăng Long làm kinh đô, mà ngay vùng đất Thăng Long cũng đã nằm trong thuyết tầm long của Kham dư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản Kham Dư Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là một công trình học thuật sâu sắc, tập trung phân tích và giải mã các văn bản Hán Nôm quý giá được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ giá trị lịch sử, văn hóa của các tài liệu cổ mà còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Độc giả sẽ được tiếp cận với những hiểu biết chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu văn bản Hán Nôm, cũng như những đóng góp của nó trong việc khám phá lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn bia huyện văn lâm tỉnh hưng yên, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn bia huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bia tỉnh nam định. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu văn bia và di sản Hán Nôm, đồng thời khám phá thêm nhiều góc nhìn đa chiều về lịch sử và văn hóa Việt Nam.