Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 9.04) với đề tài "Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Mai Hương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Khắc Mạnh và TS. Vương Thị Hường.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại, quan hệ ngoại giao luôn giữ vị trí trọng yếu trong kế sách trị quốc của các triều đại. Lý Văn Phức (1785-1849) là một quan chức ngoại giao của triều Nguyễn, đồng thời là một tác gia với di sản trước tác phong phú bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Trong các sáng tác gắn liền với hơn mười năm công cán hải ngoại (1831-1841), Chu Nguyên tạp vịnh thảo (CNTVT) là tập thơ ghi chép chuyến đi sứ đến Yên Kinh (Bắc Kinh) năm 1841 – chuyến đi sứ duy nhất trên cương vị Chánh sứ và cũng là hoạt động ngoại giao cuối cùng trong cuộc đời ông. Tác phẩm vừa nối tiếp mạch thơ sứ trình Yên Kinh của sứ thần Việt Nam, vừa khép lại sự nghiệp thơ ca bang giao của Lý Văn Phức. Mặc dù các tác phẩm của ông đã được nhiều học giả quan tâm, nhưng trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về tình hình văn bản học, phân loại dị bản, xác lập thiện bản cũng như đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ này. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật nêu trên và đóng góp vào công tác bảo tồn, phát huy di sản Hán Nôm.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là hướng đến cái nhìn toàn diện về chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 của Lý Văn Phức và thực hiện nghiên cứu văn bản học đối với tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo, qua đó xác lập thế hệ bản sao, xác định văn bản đáng tin cậy (thiện bản), phiên dịch và đánh giá giá trị tác phẩm trên các phương diện nội dung và nghệ thuật.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 5 điểm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp trước tác của Lý Văn Phức, đặc biệt là các nghiên cứu về tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
- Sưu tầm tư liệu liên quan đến chuyến đi sứ năm 1841 của Lý Văn Phức để làm sáng rõ chuyến đi ngoại giao cuối cùng của ông trên cương vị Chánh sứ triều Nguyễn sang triều Thanh.
- Sưu tầm, khảo sát, hệ thống hóa 14 văn bản hiện còn của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo; đối chiếu, so sánh nhằm xác lập thế hệ bản sao và xác định thiện bản.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá giá trị thơ văn của Lý Văn Phức qua tác phẩm trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
- Phiên dịch 1 bài tựa và 62 bài thơ trong tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ 14 văn bản của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo hiện còn lưu giữ tại các thư viện ở Hà Nội (gồm 12 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1 bản tại Thư viện Viện Văn học và 1 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam).
- Phạm vi nghiên cứu: Bao quát bối cảnh bang giao triều Nguyễn - triều Thanh nửa đầu thế kỷ XIX, các chuyến đi công cán của Lý Văn Phức (đặc biệt là chuyến đi sứ năm 1841); tập trung khảo sát các vấn đề văn bản học của 14 văn bản tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo và định vị giá trị tác phẩm trong dòng thơ đi sứ trung đại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu về Lý Văn Phức và tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo qua các nhóm tư liệu chính:
Các công trình sử tịch và biên mục thư mục
- Sử tịch triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép theo lối biên niên các mốc hành trạng từ khi thi đỗ đến khi mất của Lý Văn Phức (1819-1849). Đại Nam chính biên liệt truyện (Mục XV, Truyện các quan) tóm tắt cuộc đời, quê quán, sự nghiệp và ghi nhận các trước tác như Tây hành kiến văn lục, Mân hành thi thảo, Việt hành thi thảo, Việt hành tục ngâm, Kính hải tục ngâm, Chu nguyên tập vịnh. Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục ghi nhận Lý Văn Phức đỗ Hương cống khoa Kỷ Mão (1819). Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực bổ sung chi tiết về việc ông bị cách chức năm 1827 và ghi chép sự kiện viết bài Di biện luận.
- Thư mục và sách nghiên cứu tác gia: Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam tập 1 (1971) lập danh mục 12 trước tác; Dương Thái Minh trong Thư mục sách Hán Nôm - Mục lục tác giả (1972) đưa ra 20 tác phẩm; Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (1993) thống kê 50 văn bản của 21 tác phẩm và ghi nhận 8 bản chép tay Chu Nguyên tạp vịnh thảo tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Thư mục sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia (2002) giới thiệu bản chép Chu Nguyên tạp vịnh thảo ký hiệu R.1834/AB.132; Sứ thần Việt Nam (1996) giới thiệu 12 tác phẩm; Trần Hải Yến trong Từ điển văn học bộ mới (2004) khái quát đặc điểm 16 tác phẩm của ông; Trịnh Khắc Mạnh trong Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (2012) thống kê danh mục 32 tác phẩm; tùng thư Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (2010) do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Đại học Phúc Đán hợp tác xuất bản giới thiệu 4 tập thơ văn sứ trình của Lý Văn Phức (Kính hải tục ngâm, Sứ trình di lục, Sứ trình quát yếu biên).
Các sách chuyên khảo, luận án và bài báo nghiên cứu
- Dương Quảng Hàm với Lý Văn Phức: Tiểu sử - Văn chương (1945) và Việt Nam thi văn hợp tuyển (1951) phân tích bối cảnh xã hội, dịch Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện.
- Hoa Bằng với chuyên khảo Lý Văn Phức (1953) gồm 9 chương, nghiên cứu tiểu sử, cá tính, bối cảnh thời đại, tư tưởng, nghệ thuật và tác phẩm Nôm (Nhị thập tứ hiếu diễn âm), đồng thời trích dịch một phần bài tựa và một số bài thơ trong Chu Nguyên tạp vịnh thảo (Nguyên đán, nhị nhật, bi thuật, Thập nguyệt tứ nhật bi thuật, Nhục thực hí thành).
- Nguyễn Thị Ngân với luận án tiến sĩ Nghiên cứu Lý Văn Phức và Tây hành kiến văn kỷ lược (2009) hệ thống hóa phả hệ gia đình, hành trạng quan lộ, lập danh mục 26 tác phẩm sáng tác ở nước ngoài và giải quyết văn bản học tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược.
- Học giả nước ngoài: GS. Trần Ích Nguyên (Đài Loan) trong Việt Nam Hán tịch văn hiến thuật luận (2013) dành 4 chương khảo sát các chuyến đi nước ngoài, tư tưởng Hoa - Di chi biện, mối giao lưu văn thơ giữa Lý Văn Phức và Thái Đình Lan, văn hóa ẩm thực Châu Á; Claudine Salmon (Pháp) giới thiệu chuyến đi Tiểu Tây Dương năm 1830; Hạ Lộ (2013) nghiên cứu chuyến đi Quảng Đông, Áo Môn; Dương Đại Vệ (2014) thực hiện luận văn thạc sĩ về Lý Văn Phức và quan hệ Thanh - Việt đầu thế kỷ XIX tại Đại học Ký Nam.
- Các bài nghiên cứu chuyên biệt: Nguyễn Đổng Chi (1981) về bài Di biện luận; Nguyễn Đăng Na (1988, 2001) về Tây hành kiến văn kỷ lược; Dương Thị The (1992) về Sứ trình tiện lãm khúc; Nguyễn Thị Oanh - Trịnh Khắc Mạnh (2009) và Nguyễn Thanh Tùng (2011) về bài thơ Kiến Lưu Cầu quốc sứ giả; Trịnh Khắc Mạnh (2012) khảo cứu 5 văn bản nhóm Mân hành; Phạm Văn Ánh (2017) trong "Sự nghiệp trước thuật của Lý Văn Phức" khảo sát 19 tên văn bản (gồm 27 tập tác phẩm độc lập), sơ bộ khảo sát bản CNTVT A.304 và phát hiện bản Hoàng Hoa tạp vịnh A.1308 là một dị bản của Chu Nguyên tạp vịnh thảo; Trần Hải Yến (2017) khảo sát việc lưu truyền các tác phẩm Nôm.
- Về công tác biên dịch: Tác phẩm của Lý Văn Phức được dịch qua các công trình của Lê Trí Viễn - Hoàng Ngọc Phách (1972, Nhị độ mai), Trần Văn Giáp (1975, Ngọc Kiều Lê tân truyện), Phạm Thiều - Đào Phương Bình (1993, Thơ đi sứ), Phan Văn Các - Đặng Đức Siêu (2000, Tổng tập văn học Việt Nam tập 16), Nguyễn Thị Nhung (2012, khóa luận về Sứ trình chí lược thảo).
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào tiểu sử, tác phẩm chữ Nôm hoặc các tác phẩm đi sứ độc lập như Tây hành kiến văn kỷ lược, Mân hành, Sứ trình chí lược thảo. Đối với Chu Nguyên tạp vịnh thảo, giới nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả sơ lược một vài bản chép tay hoặc trích dịch một số bài thơ riêng lẻ. Toàn bộ 14 dị bản hiện tồn chưa từng được khảo sát định lượng, đối chiếu dị văn, khảo cứu chữ húy, dựng sơ đồ phả hệ truyền bản, xác lập thiện bản và dịch thuật công bố có hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
Luận án vận dụng lý thuyết văn bản học Hán Nôm kết hợp lý luận văn học trung đại và nghiên cứu lịch sử bang giao. Hệ thống thuật ngữ then chốt được tác giả giới thuyết và sử dụng bao gồm:
- Phân định hoạt động ngoại giao: "Đi sứ" (các đoàn sứ bộ ngoại giao chính thức sang Bắc Kinh làm nhiệm vụ tiến cống, cầu phong, tạ ơn, báo tang, chúc mừng); "Đi công cán" (chuyến đi giải quyết sự vụ hành chính, thương mại, biên giới tại các địa phương); "Đi hiệu lực" (chuyến đi phục dịch, thực thi công vụ ngoài nước để lập công chuộc tội).
- Phân định thể loại văn học bang giao: "Thơ bang giao" (khái niệm rộng chỉ các sáng tác trong mọi hoạt động ngoại giao) và "Thơ đi sứ" (bộ phận nòng cốt của thơ bang giao, phản ánh tâm tư, hành trình đi sứ của các sứ thần).
- Thuật ngữ văn bản học: "Bản nền" (văn bản cơ sở/bản trục được chọn để đối chiếu các dị bản, có thể là bản đầy đủ nhất); "Dị bản" (các văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm do quá trình sao chép tam sao thất bản); "Thiện bản" (văn bản có độ tin cậy cao nhất, ít sai sót, phản ánh sát thực nhất diện mạo nguyên tác sau khi đã khảo dị).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm: Là phương pháp chủ đạo, dùng để miêu tả hình thức thư tịch, khảo sát các yếu tố ngoại văn bản, đối chiếu dị văn, giám định niên đại, khảo sát chữ húy, truy tìm quá trình truyền bản và xác định thiện bản.
- Phương pháp định lượng thống kê: Thống kê số lượng bài thơ văn trong từng dị bản, thống kê tần suất sai khác từ ngữ ở nhan đề, lời dẫn (thi tự) và nội dung 17 bài thơ trùng nhau giữa 14 bản chép, lập bảng phân loại tỷ lệ các loại sai sót văn bản.
- Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học): Dùng để giải mã ngữ nghĩa, minh giải văn bản trong mối quan hệ ngữ cảnh và liên văn bản nhằm phục vụ việc phiên dịch, chú giải.
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt tác phẩm vào tiến trình thơ văn đi sứ triều Nguyễn và văn học trung đại Việt Nam để đánh giá giá trị tư tưởng và thi pháp.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khai thác giá trị của văn bản trên các bình diện lịch sử bang giao, địa lý hành trình, văn hóa và phong tục tập quán.
- Thao tác phân tích - tổng hợp: Tổng thuật tư liệu, biện luận dị văn và khái quát các kết luận khoa học.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tư liệu văn bản học trực tiếp: 14 văn bản chép tay tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (12 bản), Thư viện Viện Văn học (1 bản) và Thư viện Quốc gia Việt Nam (1 bản).
- Tư liệu lịch sử và tác phẩm liên quan: Các bộ chính sử (Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc sử di biên), gia phả (Lý thị gia phả), cùng hệ thống trước tác khác của Lý Văn Phức (Mân hành thi thoại, Tây hành kiến văn kỷ lược, Kính hải tục ngâm, Sứ trình chí lược thảo, Sứ trình tiện lãm khúc).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tổng kết có hệ thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về thân thế, quan lộ, trước tác của Lý Văn Phức và các khảo sát sơ bộ về tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo ở trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng giới nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả về tiểu sử và mảng sáng tác chữ Nôm, song mảng văn bản học các tác phẩm chữ Hán đi sứ (đặc biệt là CNTVT) vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ. Từ việc phân tích những đóng góp và hạn chế của người đi trước, chương này xác định rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài và thiết lập hệ thống định nghĩa các thuật ngữ công cụ sử dụng xuyên suốt luận án.
Chương 2: Lý Văn Phức và chuyến đi sứ Yên Kinh (Trung Quốc) năm 1841
Chương 2 làm sáng tỏ các yếu tố bối cảnh lịch sử và tiểu sử tác giả liên quan trực tiếp đến sự hình thành tác phẩm:
- Bối cảnh lịch sử - xã hội và bang giao: Trình bày tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (cải cách hành chính thời Gia Long, Minh Mệnh), chính sách Nho giáo và hoạt động tuần phòng biển đảo; phân tích quy chế triều cống - sách phong định kỳ hai năm một lần cống, bốn năm một lần sang chầu giữa triều Nguyễn và triều Thanh.
- Cuộc đời và sự nghiệp Lý Văn Phức (1785-1849): Phân tích nguồn gốc dòng dõi họ Lý gốc Phúc Kiến di cư sang Việt Nam từ thời Lê Trung Hưng, sinh sống tại làng Hồ Khẩu (phường Bưởi, Hà Nội); ảnh hưởng của truyền thống gia đình (ông nội Lý Khắc Đôn, cha Lý Tố Am), thời kỳ loạn lạc cuối Lê - Tây Sơn và ý thức tự tôn dân tộc sâu sắc của ông (tiêu biểu qua sự kiện viết bài Di biện luận năm 1831 tại Phúc Kiến để phản đối tấm biển "Việt Di hội quán").
- Chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841: Khảo sát mục đích ngoại giao (chuyến đi sứ đầu năm Thiệu Trị thứ nhất 1841 do Lý Văn Phức làm Chánh sứ cùng hai Phó sứ Nguyễn Đức Hoạt và Bùi Phụ Phong sang Yên Kinh), phục dựng hành trình đi sứ từ Mục Nam Quan qua các tỉnh Trung Quốc đến Yên Kinh và hành trình trở về; phân loại 4 tác phẩm văn học được ông sáng tác trong chuyến đi sứ này.
Chương 3: Khảo sát văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức
Chương 3 là trọng tâm văn bản học của luận án, thực hiện khảo sát, đối chiếu định lượng 14 dị bản hiện tồn:
- Phân loại nhóm văn bản:
- Nhóm 1 (tiêu đề ghi Chu Nguyên tạp vịnh thảo): Gồm các bản chép tay có tiêu đề chính thức của tác phẩm (như các bản ký hiệu A.304, A.1757, VHv.184...).
- Nhóm 2 (tiêu đề không ghi Chu Nguyên tạp vịnh thảo): Gồm các bản sao chép mang tên gọi khác nhưng nội dung trùng khớp (tiêu biểu như bản Hoàng Hoa tạp vịnh ký hiệu A.1308).
- Khảo dị và đối chiếu văn bản:
- Lựa chọn bản A.1757 làm bản nền (bản cơ sở) để tiến hành so sánh đối chiếu.
- Thống kê số lượng, sự xuất nhập và trật tự sao chép các bài thơ, văn trong cả 14 bản chép.
- Khảo sát sự sai khác từ ngữ ở nhan đề các bài thơ văn (lập Bảng 3.5 và Bảng 3.6).
- Khảo sát chuyên sâu dị văn ở phần thi tự (lời dẫn) và nội dung của 17 bài thơ xuất hiện đồng thời trong cả 14 văn bản (Bảng 3.4, 3.7, 3.8, 3.9).
- Khảo sát hiện tượng kiêng húy (chữ húy các vua chúa triều Nguyễn và triều Thanh) trong 14 bản (Bảng 3.11).
- Xác lập thế hệ bản sao và thiện bản: Dựng sơ đồ biểu thị mối liên hệ phả hệ giữa các bản sao của tác phẩm CNTVT; phân tích biện ngụy dị văn, xác định văn bản có độ tin cậy cao nhất (thiện bản) phục vụ cho công tác phiên dịch và công bố khoa học.
| Nhóm bảng biểu / Sơ đồ |
Nội dung khảo sát văn bản học trong Chương 3 |
| Bảng 3.1 & Bảng tổng hợp |
Tổng hợp 14 văn bản hiện tồn có sao chép CNTVT tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Văn học và Thư viện Quốc gia Việt Nam. |
| Bảng 3.3 |
Số lượng, tình hình xuất nhập và trật tự sao chép các bài thơ, văn trong 14 dị bản CNTVT. |
| Bảng 3.4 |
Danh mục 17 bài thơ xuất hiện đồng thời trong cả 14 bản CNTVT được chọn làm mẫu khảo dị chi tiết. |
| Bảng 3.5 - 3.10 |
Khảo sát sai khác nhan đề, thi tự, phân loại tỷ lệ dị văn và tổng hợp kết quả khảo dị nội dung 14 bản. |
| Bảng 3.11 |
Tình hình viết chữ kiêng húy trong 14 bản CNTVT phục vụ giám định truyền bản. |
| Sơ đồ 3.1 |
Sơ đồ biểu thị mối liên hệ thế hệ và phả hệ truyền bản giữa các dị bản CNTVT. |
Chương 4: Giá trị của Chu Nguyên tạp vịnh thảo
Chương 4 tập trung phân tích giá trị tác phẩm dựa trên văn bản đã được thẩm định:
- Giá trị nội dung:
- Ý thức dân tộc sâu sắc: Khẳng định tư thế của vị Chánh sứ đại diện cho quốc gia có nền văn hiến độc lập, tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc trong quan hệ đối thoại văn hóa với quan lại và trí thức triều Thanh.
- Cảm hứng thi ca hòa quyện cùng thiên nhiên: Miêu tả cảnh quan non sông đất nước trên đường đi sứ từ ải Nam Quan đến Bắc Kinh, ghi nhận danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử Trung Hoa qua nhãn quan của sứ thần Việt Nam.
- Dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình: Thể hiện nỗi nhớ quê hương (Hà Nội, Hồ Tây), tưởng nhớ ngày giỗ mẹ, nỗi niềm tuổi tác và những gian truân trên hành trình đi sứ muôn dặm.
- Giá trị nghệ thuật:
- Đặc điểm từ ngữ: Phân tích thi liệu, điển cố, bút pháp sử dụng từ ngữ Hán học điêu luyện, vừa trang trọng trong đối đáp bang giao, vừa mộc mạc đời thường trong cảm xúc cá nhân.
- Tính kỷ sự: Kết hợp chặt chẽ giữa thi ca trữ tình và ghi chép sự thực lịch sử (thi tự ghi rõ ngày tháng, địa danh, sự kiện tiếp xúc ngoại giao), biến tập thơ thành nguồn sử liệu phản ánh chân thực lộ trình đi sứ năm 1841.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Về phương diện lịch sử - bang giao: Luận án lần đầu tiên nghiên cứu toàn diện chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 của Lý Văn Phức đặt trong bối cảnh bang giao triều Nguyễn - triều Thanh đầu thời Thiệu Trị, làm rõ hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
- Về phương diện văn bản học: Luận án là công trình đầu tiên miêu tả, giám định, khảo sát định lượng và so sánh toàn bộ 14 dị bản hiện tồn của Chu Nguyên tạp vịnh thảo lưu trữ tại 3 cơ quan thư viện lớn ở Hà Nội; giải quyết triệt để mối quan hệ văn bản giữa bản Hoàng Hoa tạp vịnh (A.1308) và các bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
- Về phương diện phả hệ văn bản và thiện bản: Luận án dựng sơ đồ phân định thế hệ bản sao của 14 văn bản, thực hiện biện ngụy cho từng trường hợp dị văn ở nhan đề, thi tự và nội dung, qua đó xác định văn bản tin cậy nhất (thiện bản) của tác phẩm.
- Về phương diện nghiên cứu tác phẩm: Phân tích, đánh giá toàn diện các giá trị nội dung tư tưởng (ý thức dân tộc, cảm xúc trữ tình) và giá trị nghệ thuật (ngôn ngữ, tính kỷ sự) của tác phẩm trong dòng chảy thơ văn đi sứ trung đại.
- Về phương diện tư liệu và dịch thuật: Hoàn thành việc phiên dịch chữ Hán sang chữ Quốc ngữ kèm chú thích cho 1 bài tựa và 62 bài thơ trong tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu văn bản học đối với các tập thơ văn đi sứ có tình trạng truyền bản phức tạp, nhiều dị bản; đúc kết bài học ngoại giao lịch sử về sự kết hợp nhu cương và ý thức bảo vệ quốc thể.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp nguồn tư liệu văn bản đã được thẩm định phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trung đại, lịch sử bang giao Việt Nam - Trung Quốc tại các trường đại học và cơ sở nghiên cứu; đóng góp trực tiếp vào công tác xã hội hóa, dịch thuật và xuất bản di sản Hán Nôm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 14 văn bản chép tay Chu Nguyên tạp vịnh thảo hiện đang lưu trữ tại Hà Nội (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Quốc gia Việt Nam); phần dịch thuật mới tiến hành dịch 1 bài tựa và 62 bài thơ tiêu biểu được chọn lọc từ thiện bản mà chưa thể dịch toàn bộ mọi bài thơ văn xuất hiện trong các dị bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm thêm các bản chép khác của tác phẩm (nếu có) tại các thư viện địa phương hoặc ở nước ngoài để bổ sung vào phả hệ truyền bản.
- Mở rộng việc phiên dịch, chú giải toàn bộ các bài thơ, văn còn lại của tập thơ để xuất bản trọn vẹn ấn bản toàn tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
- Mở rộng so sánh thi pháp Chu Nguyên tạp vịnh thảo với toàn bộ các tập thơ sứ trình khác của Lý Văn Phức (Mân hành thi thoại, Kính hải tục ngâm, Tây hành thi kỷ) và các sứ thần cùng thời kỳ triều Nguyễn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Hán Nôm, Văn học trung đại: Tham khảo quy trình xử lý văn bản học thực chứng, phương pháp khảo dị định lượng, biện ngụy dị văn, xác lập thiện bản và lập sơ đồ truyền bản (đặc biệt là nội dung Chương 3).
- Nhà nghiên cứu Sử học và Lịch sử Ngoại giao: Khai thác các tư liệu lịch sử về quan hệ bang giao triều Nguyễn - triều Thanh nửa đầu thế kỷ XIX, quy chế sứ bộ, lộ trình đi sứ và hành trạng của Lý Văn Phức (nội dung Chương 2 và Chương 4).
- Giảng viên và sinh viên các trường Đại học: Sử dụng phần bản dịch 62 bài thơ và bài tựa có chú giải làm tư liệu giảng dạy văn học chữ Hán, văn học bang giao và lịch sử Việt Nam thời Nguyễn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo được Lý Văn Phức sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Tác phẩm được sáng tác trong chuyến đi sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) vào năm Thiệu Trị thứ nhất (Tân Sửu, 1841). Đây là chuyến đi sứ duy nhất mà Lý Văn Phức được triều đình đặc cách cử làm Chánh sứ (cùng hai Phó sứ Nguyễn Đức Hoạt và Bùi Phụ Phong), đồng thời là hoạt động ngoại giao cuối cùng trong sự nghiệp của ông.
2. Luận án đã khảo sát bao nhiêu văn bản của tác phẩm và lưu trữ ở đâu?
Luận án khảo sát toàn bộ 14 văn bản chép tay của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo hiện lưu giữ tại Hà Nội, bao gồm:
- 12 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (trong đó có các bản tiêu biểu như A.304, A.1757, A.1308, VHv.184...).
- 01 bản tại Thư viện Viện Văn học.
- 01 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (ký hiệu R.1834/AB.132).
3. Việc phân chia 2 nhóm văn bản trong Chương 3 dựa trên tiêu chí nào?
Việc phân chia dựa trên tiêu đề ghi trên văn bản:
- Nhóm 1: Các bản có tiêu đề ghi rõ Chu Nguyên tạp vịnh thảo.
- Nhóm 2: Các bản có nội dung sao chép thơ văn của tập này nhưng mang tiêu đề khác, cụ thể là bản Hoàng Hoa tạp vịnh (ký hiệu A.1308 gồm 26 tờ, không ghi tên tác giả, qua đối chiếu trùng khít với các bài trong Chu Nguyên tạp vịnh thảo).
4. Luận án đã chọn bản nào làm bản nền và khảo dị chi tiết bao nhiêu bài thơ?
Tác giả luận án đã chọn bản A.1757 (lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) làm bản nền (bản cơ sở) để đối chiếu, và tiến hành khảo sát dị văn chi tiết trên 17 bài thơ xuất hiện đồng thời trong cả 14 văn bản hiện tồn.
5. Ý thức tự tôn dân tộc của Lý Văn Phức thể hiện rõ nhất qua sự kiện và tác phẩm nào?
Ý thức tự tôn dân tộc thể hiện rõ nhất qua bài Di biện luận (viết năm 1831 tại Phúc Kiến khi ông cương quyết từ chối bước vào công quán có đề biển "Việt Di hội quán" cho đến khi quan địa phương phải xóa chữ "Di"), cùng với mạch thơ trong Chu Nguyên tạp vịnh thảo (1841) khẳng định Đại Nam là quốc gia văn hiến, thuộc dòng dõi họ Thần Nông, giữ gìn đạo học Khổng - Mạnh và phép tắc chế độ quy củ.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức" của Đỗ Thị Mai Hương là công trình chuyên khảo văn bản học Hán Nôm xử lý trọn vẹn 14 dị bản hiện tồn của tập thơ sứ trình năm 1841. Bằng phương pháp văn bản học thực chứng kết hợp định lượng khảo dị và phân tích lịch sử, luận án đã xác lập thành công thế hệ bản sao, xác định thiện bản và phiên dịch 62 bài thơ cùng 1 bài tựa của tác phẩm. Công trình làm sáng rõ diện mạo trước tác Hán văn của Lý Văn Phức, khẳng định giá trị tư tưởng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy di sản Hán Nôm thời Nguyễn.