đặt vấn đề bình quân ruộng đất”. - “Tình hình đặc biệt của xã hội PKVN - tình hình chế độ phú dịch hết sức phiền phức nặng nề và tình hình ruộng công ở xã thôn - khiến cho các lãnh tụ nông dân không cần đƣa ra khẩu hiệu bình quân ruộng đất…”. Nguyễn Đổng Chi - “… VN thời trung đại, tƣ tƣởng bình quân ruộng đất đã từng ngự trị. Tác dụng của tƣ tƣởng này đối với nông dân và phong trào nông dân là: 1.
Nó là chỗ dựa cho họ để đấu tranh một cách hợp pháp… 2. Nó cũng là chỗ dựa để cho ngƣời ta dễ dàng quay trở về cái cũ sau mỗi lần thay triều đổi đại… chính vì có sẵn tƣ tƣởng bình quân ruộng đất và chế độ phân phối định kỳ ruộng công ở các xã thôn VN nên những lãnh tụ… thấy không cần thiết phải gieo rắc, tuyên truyền tƣ tƣởng chia lại ruộng đất…”. - Khởi nghĩa nông dân không phải là CMTS nên không có mục đích chia hẳn ruộng đất cho nông dân. - Việc duy trì chế độ quân cấp với ruộng công ngày một ít đi đã trói buộc nông dân vào khẩu phần “chết đói”, vì vậy yêu cầu ruộng đất ngày một thiết tha.
Vấn đề ruộng đất là nguyên nhân của phong trào. - Nguyên nhân trực tiếp của phong trào là nạn phú dịch nặng nề của triều đình cùng với nạn tô tức của địa chủ và nạn đục khoét của quan lại cƣờng hào. Nguyễn phan Quang - “… không nên chỉ căn cứ vào việc nông dân chƣa đề ra đƣợc khẩu hiệu cụ thể về ruộng đất để nói rằng vấn đề khẩu hiệu ruộng đất chƣa hề đƣợc đặt ra với phong trào nông dân, càng không thể nói rằng nông dân VN không có yêu sách về ruộng đất”. - “… ruộng không đƣợc cày, tiền nợ không đƣợc hỏi” (Lê hoàng triều kỷ nói về PTND Đàng ngoài); “… họ muốn tỏ ra bình đẳng giữa mọi ngƣời Đàng Trong…”; “Họ tấn công và tƣớc vũ khí viên quan do nhà vua sai vào thu thuế; họ thu lấy tất cả giấy tờ của viên quan này và đem đốt ở nơi công cộng”; “… họ đòi lấy những giấy tờ công cũng nhƣ những sổ sách về thuế khóa do nhà vua và bọn quan lại đặt ra, đem đốt ở nơi công cộng” (Diego de Jumilla nói về nghĩa quân Tây Sơn); “Họ tuyên truyền sự bình đẳng về mọi mặt; và trung thành với chủ nghĩa của họ, những ngƣời tiền khu của CNXH cận đại ấy đã lấy của cải của bọn quan lại và bọn nhà giàu phân phát cho dân nghèo”; “Những làng mạc bị thuế má hà khắc đè nặng đã nhiệt liệt tuyên thệ hƣởng ứng khởi nghĩa” (Emmanuel Castuera ghi chép về phong trào Tây Sơn).
- Yêu cầu phân phối lại ruộng đất công làng xã để đảm bảo khẩu phần cày cấy là nội dung chủ yếu trong yêu sách ruộng đất của nông dân nƣớc ta thời phong kiến, có mối liên quan nhân quả với tình trạng kiêm tính ruộng đất của giai cấp địa chủ. Kết luận - Vấn đề ruộng đất là nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ phong trào nông dân thời trung đại. Sự thu hẹp ruộng đất công là quá trình song hành cùng với sự phát triển ruộng tƣ phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản: chính sách ruộng đất của Nhà nƣớc và hoạt động kiêm tính ruộng đất của địa chủ, quan lại, cƣờng hào. - Phong trào nông dân tác động trở lại đối với chính sách ruộng đất của Nhà nƣớc trong mỗi thời kỳ: + Cuối Trần (1397-1398): trong tình trạng chế độ điền trang - thái ấp lấn át ruộng đất công, vua Trần theo đề nghị của Hồ Qúy Ly xuống chiếu hạn định số ruộng tƣ.
+ Lê sơ ban hành các chính sách thủ tiêu chế độ điền nô, nô tỳ cùng chế độ chiếm hữu ruộng đất tƣ, thực hiện quân điền. + Đầu thế kỷ XVIII (1711) bàn định chế độ quân cấp, trên từ quan viên dƣới đến thứ dân, kể cả những ngƣời cô quả, phế tật. Đến giữa thế kỷ XVIII, thi hành chính sách an dân, giảm tô thuế, phát chẩn dân nghèo… + Thời Nguyễn: chủ trƣơng khẩn hoang, doanh điền, quân điền, vận động hiến ruộng tƣ cho Nhà nƣớc. - Tác động của tình hình ruộng đất đến đặc điểm phong trào nông dân: + Thời Trần (cuối XIV): ruộng đất công của nông dân đƣợc đảm bảo, kinh tế điền trang - thái ấp chiếm ƣu thế, quy định đặc điểm phong trào nông dân là thủ tiêu chế độ điền nô - nô tỳ; với sự tham gia đông đảo thành phần nông dân nghèo, nông nô và nô tỳ; quy mô nhỏ, số lƣợng ít.
+ Thời Lê (XVI-XVII): quan lại PK thối nát, cùng với địa chủ chấp chiếm ruộng đất của nông dân, sƣu thuế đè nặng, từ đó phong trào nông dân nhằm vào vua quan phong kiến thống trị và địa chủ; lực lƣợng chính là nông dân; quy mô lan rộng và mang tính quyết liệt. + Cuối Lê đầu Nguyễn (cuối XVIII - đầu XIX): chế độ PK khủng hoảng toàn diện, nhất là về sở hữu ruộng đất, sự bất lực của chính quyền trong việc giải quyết ruộng công - tƣ, cùng với đó là tình trạng phú dịch nặng nề, nông dân xiêu tán… Vì vậy, phong trào nông dân diễn ra quyết liệt, kéo dài, có sự liên kết với nhau, lan rộng với quy mô cả nƣớc, mà nông dân là động lực chính. - Dù rằng chƣa tìm thấy một khẩu hiệu ruộng đất nào đƣợc giƣơng cao trong các phong trào nông dân VN thời trung đại, nhƣng yêu sách về ruộng đất chính là nguyên nhân sâu xa thúc giục mọi phong trào. CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN NHÓM 1.
Phân tích khẩu hiệu ruộng đất trong các cuộc khởi nghĩa nông dân hay phong trào nông dân thời phong kiến Việt Nam. Phân biệt phong trào nông dân với các phong trào đấu tranh xã hội khác trong thời phong kiến Việt Nam. Phân tích các đặc điểm của phong trào nông dân Việt Nam thời trung đại. Vấn đề tôn giáo trong phong trào nông dân Việt Nam chống phong kiến (có hay không có, tại sao? Liên hệ đối sánh với một số phong trào nông dân thế giới thời trung đại).
PHONG TRÀO NÔNG DÂN VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI 2. Tiêu chí phân định về tính chất phong trào - Nguyễn Văn Huyên (NCLS, số 81/12.1965): căn cứ vào mục đích, khẩu hiệu, lực lƣợng tham gia và thành phần lãnh đạo, thậm chí xét cả địa bàn hoạt động cùng diễn biến phong trào. - Nguyễn Khắc Đạm (NCLS, số 92/11.66): + Cuộc nổi dậy mang tính chất chính nghĩa, đem lại quyền lợi cho giai cấp nông dân. + Loại bỏ tất cả những cuộc nổi dậy nào nhằm đem quyền lợi cho các tập đoàn phong kiến (ngoại trừ trƣờng hợp về hình thức ủng hộ PK [phù Lê] nhƣng thực tế giành quyền lợi cho nông dân) hoặc nhằm đem lại quyền lợi cho ngoại bang xâm lƣợc.
Các ý kiến tranh luận Trường hợp 1. Các cuộc nổi dậy của Đoàn Thƣợng và Nguyễn Nộn cuối triều Lý (cuối XII - đầu XIII). - Minh Tranh: là khởi nghĩa nông dân. - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: là chiến tranh PK.
- Nguyễn Khắc Đạm: là các thế lực cát cứ, liên kết khi thì với triều đình Lý, khi thì với các thế lực khác, xƣng vƣơng và rồi chiếm đƣợc địa vị riêng. - LSVN: là các thế lực nổi loạn giành giựt quyền hành với triều Lý và lẫn nhau, cuối cùng đều quy hàng vì địa vị (Trần Tự Khánh làm Thái úy, Nguyễn Nộn đƣợc phong tƣớc Hầu, Đoàn Thƣợng tƣớc Vƣơng). Trường hợp 2. Các cuộc nổi dậy của Thân Duy Nhạc, Lê Khắc Cƣơng, Lê Bá Hiến và Giang Văn Dụ ở cuối triều Lê sơ (đầu XVI).
- Nguyễn Đổng Chi: đều là khởi nghĩa nông dân. - Phan Huy Lê: là khởi nghĩa nông dân, trừ trƣờng hợp Giang Văn Dụ. - Nguyễn Khắc Đạm: đều chỉ nhằm mục đích giành quyền lợi cho các tập đoàn PK, với 2 đặc điểm: + Ngƣời cầm đầu đều thuộc quý tộc lớn, có quyền thế, sẵn binh lực trong tay. + Thời gian nổ ra phong trào nhằm vào lúc triều đình Lê sơ suy yếu, các tập đoàn PK hỗn chiến tranh giành địa vị thống trị.
- LSVN: theo quan điểm của Phan Huy Lê. Trường hợp 3. Cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật cuối thời Lê - Trịnh (1738-1770). - Minh Tranh, Đào Duy Anh, Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Đổng Chi: khởi nghĩa nông dân.
- Nguyễn Văn Huyên, Hoài Giang: mang tính chất PK. “Lê Duy Mật không phải là lãnh tụ nông dân khởi nghĩa, mà chỉ là một nhân vật đứng đầu một tập đoàn PK…”. - Nguyễn Khắc Đạm: là khởi nghĩa nông dân, thể hiện: + Đƣợc nông dân ủng hộ, thực tế có những chủ trƣơng đem lại lợi ích cho nông dân. + Lãnh tụ vì dân vì nƣớc, không bị mua chuộc bởi chúa Trịnh; hòa nhịp cùng các cuộc khởi nghĩa khác.
- LSVN: mang tính quần chúng, hòa chung vào phong trào nông dân. Trường hợp 4. Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi dƣới thời Nguyễn (1833-1835). - Minh Tranh, Đào Duy Anh, Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm: là khởi nghĩa nông dân.
- Nguyễn Phan Quang: không hẳn là phong trào nông dân mà diễn biến cho thấy mang tính chất một cuộc binh biến quy mô, dù lúc đầu đƣợc đông đảo nhân dân ủng hộ. - Nguyễn Khắc Đạm: là cuộc nổi dậy của một tập đoàn võ quan, nặng đầu óc cát cứ, lợi dụng sự căm phẫn của quần chúng, binh sĩ và tù phạm đối với chính sách hà khắc của triều Nguyễn, cấu kết với Xiêm La. - LSVN: “Cũng nhƣ các cuộc khởi nghĩa của nông dân. phản ánh sự bất bình cao độ của nhân dân GĐ…”.
Những phong trào nông dân tiêu biểu 2. Phong trào nông dân thời Lý - Trần a. Cuộc nổi dậy của Thân Lợi (1140 - Thái Nguyên) - Xƣng con Nhân Tông, hiệu Bình Vƣơng, giỏi thuật số, dân biên giới theo đông, đánh chiếm phủ trị. - Bị đánh bại khi tấn công Thăng Long, bị truy kích tận sào huyệt, bị bắt và chém đầu cùng với 20 thủ lĩnh.
Cuộc nổi dậy ở Đại Hoàng (Ninh Bình) - 1152 có cuộc nổi dậy do Nùng Khả Lai chỉ huy. - 1202-1207 tiếp tục nổi dậy do Phí Lang lãnh đạo, chống chế độ phu dịch xây dựng kinh thành, thắng lớn quân đội triều đình 3 lần, đốt hành cung, phá kho thóc, gây thanh thế; triều đình chiêu dụ song nghĩa quân vẫn làm chủ vùng Tây Nam Thăng Long. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tỳ - Nguyên nhân chung: mất mùa, đói kém, thuế tăng, mất ruộng, triều đình thoái hóa… - 1344-1360 Ngô Bệ lãnh đạo nông dân vùng Hải Dƣơng nổi dậy đánh phá nhà địa chủ - quan lại, yết bảng chẩn cứu dân nghèo.