Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của Luận văn được trình bày như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Với tiêu đề “Đông Kinh nghĩa thục và Hán văn Đông Kinh nghĩa thục”, nhằm giới thiệu sự ra đời của Đông Kinh nghĩa thục cũng như một số đặc trưng chức năng, phong cách của Hán văn Đông Kinh nghĩa thục. Chƣơng 2: Với tiêu đề “Hán văn Đông Kinh nghĩa thục qua Quốc dân độc bản 國民讀本", nhằm nghiên cứu về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục thông qua đại diện của nó là Quốc dân độc bản 國民讀本. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC VÀ HÁN VĂN ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là những tư liệu Hán văn được viết bởi một bộ phận các nhà nho tiến bộ trường Đông Kinh nghĩa thục những năm đầu thế kỷ XX. Chính vì nó được viết bởi những tấm lòng nhiệt thành và tư tưởng đổi mới, tiến bộ nên Hán văn Đông Kinh nghĩa thục còn được gọi là Hán văn của nhà trường, Hán văn cải cách văn hóa, khải mông tư tưởng và cách tân về phương diện từ vựng, ngữ pháp.
Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt làm sáng tỏ những đặc trưng về chức năng và phong cách của bộ phận Hán văn này. Đông Kinh nghĩa thục Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Đất nước bị chia cắt làm ba kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ dưới chế độ trực trị, Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới cả hai chế độ đó. Thực dân Pháp phải mất 25 năm (từ 1858-1883) mới hoàn thành xâm lược Việt Nam, mất gần 15 năm (từ 1883-1896) để hoàn thành cái gọi là “bình định”.
Trong suốt 40 năm ấy, mọi hoạt động lớn của dân tộc đều hướng đến một nhiệm vụ bao trùm: đối phó với bọn thực dân để khôi phục lại chủ quyền đất nước. Phong trào Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động năm 1885 đã phát triển rộng khắp từ miền Trung cho đến miền Bắc trong những năm 1885, 1886, 1887 rồi suy giảm dần, đi đến hồi kết với thất bại của khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo năm 1897. Từ sau cuộc khởi nghĩa Hương Khê cho đến trước cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, khắp đất nước tuy các đoàn thể cứu quốc còn nhiều nhưng đáng kể thì chỉ có cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hoàng Hoa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thám ở Yên Thế. Nhưng Hùm thiêng Yên Thế khi ấy lúc lâm vào cảnh thân cô thế cô cũng phải tạm thời hòa hoãn với quân xâm lược.
Mặc dù nỗi e ngại của nhà cầm quyền về chúng dân xứ thuộc địa vẫn còn nhưng bọn thực dân Pháp cũng không giấu nổi sự hể hả trước những thành công trong việc trấn áp của chúng: “Nhân dân toàn xứ hầu như đã bị quật xuống dưới quyền thống trị của chúng ta, nhưng họ chưa phải đã thấm nhuần tính chất vĩnh viễn của nền đô hộ Pháp và họ vẫn sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuận lợi hay một giây phút yếu đuối của chúng ta để lật nhào cái ách nặng trên cổ”. [Đặng Thai Mai, 1971. Trong báo cáo của Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume gửi về Pari năm 1897 có đoạn viết rằng: “Hiện nay tình hình chính trị trên toàn cõi Đông Dương không còn một nơi nào đáng lo ngại hay bi đát”. [Đặng Thai Mai, 1971.
Năm 1902, Đume gửi báo cáo về Pari, trong báo cáo đó có viết rằng: “Từ năm 1897 đến nay không có người lính Pháp nào chết trận ở Đông Dương nữa”. Hình thức đấu tranh vũ trang đã hoàn toàn chấm dứt trên đất nước ta, nếu còn cũng chỉ là vài cuộc đánh hậu vệ, diễn ra đơn lập, lẻ tẻ và bột phát. Bộ máy chính quyền thực dân đã được xây dựng và củng cố với sự hợp tác của triều đình Huế và một bộ phận không nhỏ tầng lớp phú hào. Nhà nước bảo hộ thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ hang hóa và bóc lột nhân công để thu lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời lại kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng trì trệ của một nước nông nghiệp để dễ bề cai trị.
Cả bộ máy quan lại Nam triều từ trên xuống dưới bắt tay với lũ thực dân xâm lược ra sức bóc lột dân ta. Thực dân Pháp còn cho phép duy trì và phát triển những phong tục hủ bại thời phong kiến như: đánh bạc, uống rượu, hút thuốc phiện, cổ động mê tín dị đoan, truyền bá và xúi giục các thứ tôn giáo và tà giáo…nhằm ru dân ta ngủ mãi trong kiếp ngu hèn, bạc nhược về tinh thần và kiệt quệ về thể chất. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong không khí đầy xáo trộn ấy, ở các nhà nho Việt Nam đã xuất hiện những tâm trạng khác nhau: hoặc là ẩn dật chờ thời, hoặc chán đời tiêu cực không hoạt động cứu nước cũng không chịu ra làm quan, hoặc cho rằng "rau vi chẳng lấy gì làm đắng" nên bó tay về với triều đình, mà thực chất của việc làm đó là cộng tác với quân xâm lược, trở thành một bộ phận tay sai, một mắt xích quan trọng trong cơ cấu bóc lột đàn áp nhân dân của thực dân. Số đông sỹ phu cùng một tâm trạng: “Nghìn năm sự nghiệp nước về đông”! Tuy nhiên trong hàng ngũ khoa bảng mới từ năm 1885 trở đi, thậm chí ở cả hàng ngũ quan trường đã có khá nhiều người dám đứng lên chống Pháp, nuôi chí khôi phục giang sơn.
Họ mở lòng đón nhận những luồng gió Tân thư Tân văn từ Trung Quốc và bên ngoài thổi vào, và chính những tư tưởng mới mẻ ấy đã dần dần làm lung lay, dao động cách suy nghĩ, tư duy đầy thủ cựu, bền gốc sâu rễ mấy trăm năm từng hằn in trong đầu óc của biết bao thế hệ, thôi thúc các sỹ phu yêu nước hướng về con đường tươi mới đang được đón nhận ở các nước đồng văn cùng cảnh ngộ. Duy tân là một xu thế tất yếu của các nước châu Á trước sự xâm lược, bành trướng đầy hùng mạnh của chủ nghĩa đế quốc và văn minh phương tây. Duy tân còn nhằm mục đích tự cường, chấn hưng sức mạnh nội tại, làm cho nhà nước phú cường để để tham gia vào xu thế cạnh tranh của thế cuộc. Con đường đó không chỉ là một cách thức tối ưu để bảo vệ độc lập chính trị quốc gia mà còn nhằm mục đích bảo vệ chủng tộc, gìn giữ sự sống còn cho giống nòi.
Các nhà nho yêu nước đã lao mình theo gương sáng của Trung Quốc, Nhật Bản, mong muốn tiến hành một cuộc cải cách văn hóa xã hội toàn diện. “Đông Kinh nghĩa thục là bước phát triển mới, đỉnh cao và cũng là bước phát triển cuối cùng của tư trào đó”. [Trần Đình Hượu, 1983, tr. Từ năm 1906 đến đầu năm 1907, tại ngôi nhà của cụ cử Lương Văn Can ở số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội, các nhà nho yêu nước tiến bộ thường lui tới để bàn bạc về con đường cứu nước mới.
Họ đã đi tới quyết định nhất 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quán là cần lập một trường học làm cơ sở giáo dục, nhằm “hóa quốc cường dân” bằng con đường mở mang dân trí, chấn hưng kinh tế. Trường lấy tên là Đông Kinh nghĩa thục 東亩義塾, trong đó Đông Kinh 東亩 là lấy từ tên thành Thăng Long thời nhà Hồ, còn Nghĩa thục 義塾 là trường dạy vì nghĩa, không lấy tiền. Đông Kinh nghĩa thục là một mô hình trường học tư mô phỏng theo Khánh Ứng nghĩa thục (Keio-Gijuku) do Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi 1835-1901) thành lập ở Nhật năm 1858. Khánh Ứng là tên để ghi nhớ triều đại trước chính thể Minh Trị (1865), còn Nghĩa thục chỉ tinh thần “vì nghĩa lớn” của trường này.
Tinh thần này theo Phúc Trạch bao gồm bốn phẩm chất nếu phát huy được thì có thể làm rạng danh người Nhật như tính tự chế, ý chí độc lập, óc tháo vát và lòng tự nguyện đóng góp vào các công ích công thiện. Từ năm 1907, các nhà nho ta trên cơ sở những hiểu biết về một trường học đào tạo nhân tài xây dựng đất nước kiểu Khánh Ứng bên Nhật, đã đồng tâm thành lập ở Hà Nội một Nghĩa Thục và rồi từ cái Nghĩa thục ấy các cụ đã gây lên thành một phong trào Nghĩa thục hoạt động ở nhiều địa phương trong cả nước. Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn được coi là hai trong số những người “sáng lập viên” của Đông Kinh nghĩa thục, đồng thời cũng là công chức của Pháp nên việc xin giấy phép mở trường sẽ được chính quyền bảo hộ dễ dàng chấp thuận hơn. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Quyền - vị huấn đạo về hưu và Trần Đình Đức - vốn là một giáo học chữ Pháp, đứng ra xin phép mở trường.
Trường chính thức chiêu sinh và đi vào giảng dạy từ tháng 3 năm 1907 (trên thực tế thì tháng 5 năm 1907, chính quyền thực dân mới cấp giấy, cho phép ông Huấn Quyền mở trường học “theo phương châm khai hóa của Chính phủ bảo hộ”). Cụ cử Lương Văn Can lúc đó đã 53 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong đám sỹ phu sáng lập, được bầu làm thục trưởng của trường. Ông từng đỗ của nhân, từng được triều đình bổ làm Giáo thụ phủ Hoài Đức và được người Pháp đề cử vào nhiều chức vụ khác, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhưng lần nào cũng hết mực từ chối, chỉ muốn ở nhà dạy học. Nguyễn Quyền, 38 tuổi, nguyên làm Huấn đạo Lạng Sơn, xin nghỉ việc để tham gia vào tổ chức của trường, được cử làm Giám học.
Hội viên chính thức còn có Nghiêm Xuân Quảng, án sát Lạng Sơn về làm giáo viên trường sư phạm; các nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học. Bên cạnh đó cũng phải kể đến những hội viên tán trợ từng tham gia tích cực vào việc tổ chức và duy trì cho trường hoạt động thường xuyên như: Đào Nguyên Phổ, Phạm Tuấn Phong, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lê Đại, Vũ Hoành, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Tất Tuân.Hội (gồm các thành viên chính thức và hội viên tán trợ) dự kiến sẽ thành lập ở Hà Nội một Nghĩa thục, rồi mở rộng ảnh hưởng ra xung quanh, gây thành một phong trào lớn lan tỏa ra khắp nơi và lấy Hà Nội làm trung tâm.