mở đầu sự nghiệp đổi mới trong đó có đổi mới về phương diện đối ngoại. Qua các Đại hội Đảng, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế từng bước đã được hoàn thiện. Có hai dấu mốc quan trọng trong việc hoạch định đường lối hội nhập quốc tế của Đảng ta. ÄMội /à, trên cơ sở xác định toàn cầu hóa trở thành xu thé khách quan lôi cuốn càng nhiều nước tham gia, Đại Hội IX (2001) khẳng định “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tỉnh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu qủa hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc bảo vệ môi trường”.* Cụ thể hóa chủ trương này, Đảng đã ra Nghị quyết 07-NQ/TW tháng 11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, đã nêu rõ mục tiêu, các quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Tiếp đó, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương IX, Khóa IX (1/2004) nhấn mạnh vấn đề chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký kết và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập WTO. Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) nêu chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc 33 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội 1X (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001): 119-120. 3/2018 21 tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”.35 Để tiếp tục hoàn thiện đường lỗi hội nhập quốc tế, ngày 5/2/2007, Đảng ra Nghị quyết Trung ương 08 về Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO”. Méc quan trọng thit hai trong hoạch định chủ trương hội nhập quốc tế của Việt Nam là Đại hội XI (1/2011) đã quyết định “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”.3” Hội nhập không chỉ có kinh tế mà còn hội nhập các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa xã hội, những lĩnh vực khá nhạy cảm.
Để cụ thể hóa chủ trương trên của Đại Hội XI, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22 về hội nhập quốc tế. Đây là nghị quyết rất quan trọng về hội nhập quốc tế của Việt Nam. Nghị quyết đã xác định mục tiêu, 6 quan điểm chỉ đạo và những định hướng chủ yếu của chính sách en nhập quốc tế.3# Đại hội XII (1/2016) tiếp tục chủ trương pes nhập quốc tế toàn diện mà Đại hội XI của Đảng đã vạch ra. Như vậy, có thể khăng định toàn bộ chủ trương, đường lối của Đảng ta về đoàn kết, hợp tác quốc tế, về hội nhập quốc đều được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế.
Giá trị thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế Giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế được thể hiện như sau: Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và hợp tác quốc tế là nên tảng cơ sở lý luận cho Đảng và Nhà nước ta xây dựng nên đường lối đối ngoại khoa học, đúng đắn trong cuộc kháng chiến chống thực dân 36 Dang Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội X (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006): 12. 3? Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011): 236. a pan chdp hanh Trung wong: Nghi quyét 22-NQ/TW, ngay 10/4/2013 về hội nhập quoc t 22 3/2018 Nghiên cứu Quốc tế số 1 (112) Pháp và đế quốc Mỹ. Đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế sâu rộng.
Với đường lối này, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình, sự ủng hộ giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần của Trung Quốc, Liên Xô, các nước XHCN khác, của cả loài người tiến bộ trong đó có nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ. Chúng ta có thẻ khăng định nếu không có sự giúp đỗ to lớn của Trung Quốc, Liên Xô, chúng ta không thể đánh bại thực dân Pháp ở Điên Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Nếu không có ngoại lực, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam chắc chắn cũng khó thành công. Như vậy, nhờ kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, kết hợp nội lực và ngoại lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta đã thành công trong việc giành và củng cố độc lập dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Thứ hai, trong thời kỳ cả nước tiến hành xây dựng CNXH, nhất là thời kỳ Đổi mới, triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, rồi tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch SỬ: 3% Tổng viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô mà chủ yếu của Trung Quốc cho Việt Nam là 21.517 tấn vũ khí, 136 triệu Nhân dân tệ (34 triệu Rup). Ngoài ra, Liên Xô cung cấp thuốc men. Từ năm 1952 giúp đào tạo cán bộ. Trung Quốc cử đoàn cố vấn quân sự.
Xem: Ban chỉ đạo, Tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị tổng kết khang chién chong Pháp: Thắng lợi và bài học (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1996): 459. Chỉ riêng Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam 510 nghìn tấn trang tiết bị quân sự, 316 máy bay, 687 xe tăng, hơn 70 tàu chiến, tau van tai, 23 hệ thống cao xạ, 2 trung đoàn tên lửa, và nhiều công trình kinh tế. Xem: Vũ Dương Huân, Báo cáo tại HTKH “60 năm quan hệ Việt - Nga” do Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Viễn Đông và Trường đại học tổng hợp Viễn Đông tổ chức ngày 18/4/2011. 3/2018 23 - Việt Nam đã giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định thuận lợi để tập trung phát triển đất nước.
- Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững trong bối cảnh quốc tế và khu vực rất phức tạp, nhất là tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. - Quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, và ngày càng đi vào chiều sâu. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 186 nước/193 nước - thành viên Liên Hợp Quốc, với tất cả các nước lớn, thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 15 quốc gia và đối tác toàn diện với 10 quốc gia, có quan hệ với hơn 70 tổ chức quốc tế, với hơn 220 thị trường trên thế giới. - Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và toàn diện vào thế giới và đã tranh thủ được 72 ty USD vén ODA (2015); téng gid tri FDI 1a 273,66 ty USD (2015), xuất khẩu năm 2016 đạt 181,5 tỷ USD.
Ngoài ra, GDP của Việt Nam đạt gần 200 tỷ USD (2016). Thứ ba, Hồ Chí Minh rất coi trọng đoàn kết và hợp tác giúp đỡ lẫn nhau với các lực lượng cách mạng Lào, Cam-pu-chia; hợp tác với hai nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương. Trong 70 năm qua thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết hợp tác với nhân dân Lào, Cam-pu- chia, chúng ta đã thu được kết quả to lớn. Ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương đã phối hợp chặt chẽ trong đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc, trong xây dựng và phát triển đất nude phon vinh.
Thứ tư, những kinh nghiêm của Việt Nam trong việc đoàn kết, hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế theo theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là tắm gương tốt cho các dân tộc, nhất là các nước Á - Phi - Mỹ Latinh noi theo. Một minh chứng đây thuyết phục là nhân dân An-giê-ri đã noi theo gương của Việt Nam. Mặt khác, kinh nghiệm của Việt Nam trong đoàn kết, hợp tác và hội nhập quốc tế cũng được nhiều nước tham khảo nghiên cứu. 24 3/2018 Nghiên cứu Quốc té sé 1 (112) TAI LIEU THAM KHAO.
Hồ Chí Minh. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội IX.
Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001. Đảng Cộng sản Việt Nam. Van kiện Đại hội XI. Ha Noi: Nha xuất bản Chính trị Quôc gia, 2011.
Dang Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết 07-NO/TH về hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc ¿Ế.
“Thấm nhuằn tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc tế”. Tạp chí Cộng Sản, số 803 (9/2009)._ Đinh Ngọc Quý. “Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế”. Hà Huy Thông.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, một trong những tư tưởng vô giá hiện nay”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Học viện Ngoại giao (Bùi Thanh Sơn - Chủ biên). Hội nhập quốc tế và những vẫn đề đặt ra đôi với Việt Nam.
Hà Nội: Nhà xuât bản Chính trị Quốc gia, 2015. THU HUT VA SU DUNG DAU TU TRUC TIEP NUGC NGOAI (FDI) TRONG BOI CANH HOI NHAP KINH TE QUOC TE 6 VIET NAM: KET QUA DAT ĐƯỢC VA NHUNG VAN DE DAT RA Trần Nguyễn Tuyên" Tém tắt Tháng 12/1987, Quốc hội Việt Nam cho ban hành Luật Đâu tự nước ngoài. Đây được coi là văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Thực tế quá trình đổi mới vừa qua cho thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FD)) đã đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc té và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thủ hút và sử dụng đâu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn nhiều mặt hạn chế, đặt ra nhiều vẫn đề cân giải quyết như hoan thiện, đồi mới cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài, môi trường đầu tư, nội lực, ngoại lực, thu hút và sử dụng FDI.