phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 03 chương: Chương l; Cơ sở lý thuyết “Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trên Báo Công an nhân dân Chương 3: Một số lỗi về diễn đạt và định hướng sử dụng hiệu quả ngôn ngữ báo chí trên Báo Công an nhân dân. CHUONG 1 CO SO LY THUYET 1.1 Báo chí và ngôn ngữ báo chí 1.1 Báo chí Trong gia đoạn hiện nay, người ta thường dùng khái niệm báo chí truyền thông để bao gồm cả báo viết, báo nói với khái niệm kênh viết, kênh nói và kênh "hình. Trong đó, kênh viết là kênh dàng trong in ấn; kênh nói được dùng ở Đài phát thanh và truyền hình; kênh hình chỉ được dùng trên Đài truyền hình. ‘Van bin bio chí có phong cách ngôn ngữ truyền thông đại chúng.
Nguyên tắc trung thực, chính xác của thông tin báo chí có ảnh hưởng tới phong cách ngôn ngữ. Nhà báo chỉ có thể sử dụng biện pháp tu từ khi thấy chắc chắn không có sự. ảnh hưởng hay gây hiểu lầm về tính chính xác của sự kiện. Báo chí ra đời trước hết do nhu cầu thông tin.
Qua báo chí người ta có thể nhanh chóng tiếp cận được các vấn đề mà mình quan tâm. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tỉn của con người ngày càng lớn. Báo chí trở thành công cụ đắc. lực phục vụ nhu cầu thông tin của con người.
Đóng vai trò là phương tiện thông tin cực kỳ quan trọng, đáp ứng nhu cầu bức thiết của quần chúng, báo chí Việt Nam đã tạo nên một phong cách ngôn ngữ riêng trong hệ thống các phong cách chức năng. của tiếng Việt. “Có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân loại báo chí. Trước hết dựa vào kênh truyền ta có: báo nói (phát thanh ~ truyền hình) và báo viết.
Dựa vào thời gian, tần xuất phát hành một loại báo cụ thể có thể chia báo chí thành các loại như: nhật báo, tuẫn báo, bán nguyệt san hay nguyệt báo.Theo nội dung và dung lượng. thông tin có thể chia báo chí ra nhiều loại. trong đó báo dành cho các bài viết có. thông tin ngắn gọn kịp thời còn tạp chí dành cho các thông tin chuyên đẻ, yêu cầu về thông tin cập nhật không đặt ra quá bức thiết.
Các thể loại báo chí được phân theo tính chất và cách đưa thông tin. Những thể loại hay xuất hiện là: bản tỉn, bình luân, phóng sự, điều tra, ghi nhanh, ký chân dung, quảng cáo báo chí, ý kiến ban đọc (khán giả lâm sự bạn đọc.2 Chức năng của ngôn ngữ báo chí Các chức năng của báo chí trong xã hội đã làm cho ngôn ngữ trên báo chí mang những đặc điểm đặc thù, phân biệt với hàng loạt các phong cách chức năng khác xét từ góc độ ngôn nghĩa. San đây đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ báo chí.1 Chức năng thông báo Đo nhiệm vụ hàng đầu của báo chí là phản ánh tin tức các sự kiện trong công. đồng, nên công việc cáp thiết đặt lên hàng đầu của những người làm công tác báo.
chí là phải sẵn sàng có một bộ phương tiện truyền tải tin tức sắc bén và nhanh nhạy. Để thực hiện được yêu cầu này, ngôn ngữ trước nhất phải đảm bảo được tính khách cquan trong phản ánh sự kiện. Báo chí nhờ chức năng này của ngôn ngữ phản ánh được trung thực thông tin diễn ra trong thực tế. báo chí trở thành thức ăn tỉnh thần lành mạnh, có ích, giúp người tiếp nhận thông tin mở rộng hiểu biết, phát triển tư duy theo khuynh hướng toàn diện hóa.2 Chức năng định hướng dư luận Chức năng này gắn liền với chức năng thông báo.
"Các n/ à tỷ phú, triệu phí. không bao giờ dùng Đài phát thanh, báo chí của chúng một cách vô ích cả. Vì thể ty đại diện cho công luận xã hội, mỗi tờ báo thực chất là đại diện cho một nhóm người hay một tập đoàn người trong xã hội" (V. Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận, làm cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật để phân biệt rõ đâu là chân lý, đâu là ngụy biện, phân biệt thật, giả để quyết định thái độ ủng hộ hay phản đối.3 Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng.
Khi thực hiện chức năng định hướng dư luận, bản thân báo chí có sức quy tụ bạn đọc về phía mình. Chính sự thu hút của ngôn ngữ báo chí đã tạo ra khả năng tập. hợp và tổ chức quần chúng rất lớn. Lịch sử đã chứng minh sức mạnh tỉnh thần to.
lớn đến mức chuyển hóa thành ức mạnh vật chất của ngôn ngữ báo chí. Ví dị ức mạnh của tờ báo “Thanh niên” ra đời năm 1925, tờ “Cở Giải phóng” trong thoi ky giành chính quyền.3 Đặc điểm phong cách của ngôn ngữ báo chí “Trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của báo chí đối với xã hội, hệ thống. ngôn từ của báo chí loại bỏ và tiếp thu các đặc điểm ngôn ngữ ở các lĩnh vực và thiết chế xã hội khác, tự thiết lập nên cho mình hệ đặc điểm riêng. Chính các đặc điểm này tạo nên đặc điểm cấu trúc phong cách của ngôn ngữ báo chí.
Hệ đặc điểm riêng này bao gồm: 1.1 Cô đọng nhưng biểu cảm. Nói báo chí là nói tới đặc điểm ngắn gọn. Sự ngắn gọn của báo chí khác với ngắn gọn của phong cách hành chính ~ công cụ và phong cách khoa học. Bởi sir ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí vẫn ít nhiều gắn với xúc cảm chủ quan cá nhân, với cquan điểm của mỗi tờ báo cụ thể.
“Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí cũng là yêu cẩu tit yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh. MỊ thông tin nhanh, nhiều làm cho báo đa dạng, phong phú những nét rườm rà trong báo chí phải bị loại bỏ.2 Hấp dẫn nhưng thuyết phục “Tính hắp dẫn và thuyết phục của ngôn ngữ báo chí có thé coi là một trong các yếu tố quyết định sự sinh tổn của nó. Trong thời đại mà báo chí phát triển, cuộc cạnh tranh bạn đọc diễn ra ngày càng quyết liệt thì yêu cầu vẻ tinh hap dan va thuyết phục sẽ ngày càng cao. Đặc tính này được thể hiện qua các phương diện: Về nội dung, thông tin phải luôn mới, đa dạng, phong phú.
Trong đó có yêu cầu đưa tin nhanh, xác thực, có tính cập nhật. Đưa tin không một chiều mà phải phản ánh được nhiều hướng dư luận khác nhau (nếu có). 10 Về hình thức, ngôn ngữ trong bài báo phải có sức lôi cuỗn người đọc. Điều này thể hiện trước tiên ở tít bài.
Cùng với cách trình bày, hình ảnh minh hoa, cu cùng là các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, tong đó có việc lựa chọn từ ngữ. Đặc biệt là cách tạo kiểu câu bắt ngờ gây ấn tượng mạnh về ngữ nghĩa sẽ có tác dụng rất lớn với sự cảm nhận và tỉ giác của người đọc.3 Thắm mỹ song hành giáo dục Khi thực hiện tính thẩm mỹ trong ngôn từ, báo chí cũng đồng thời thực hiện tính giáo dục. Dù đưa tin, dù luận chiến báo chí tiến bộ bao giờ cũng hướng tới con người ta tới lẽ phải, chân thiện mỹ. Là phương tiện giúp con người ta tự thức mình, tự điều chính theo các quy phạm xã hội được biểu hiện ở tắt cả các phương diện như: đạo đức, luân lý, đến pháp luật.
Và các chức năng này én chim trong lớp ngôn ngữ. Việc đưa tin, bình luận trung thực đầy đủ cùng với việc phân „ bình luận các sự kiện theo cách nhìn khách quan lành mạnh, tự nó đã tao nên tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí.4 Tính chiến đấu. Báo chí chính là diễn đàn bộc lô. phản ánh những quan điểm.
thái độ khác nhau, thậm chí đối lập nhau về một sự kiện. Tính chiến đấu của báo chí được hình. thành từ những lập luận đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm "châm biểm, công kích, tới phủ định đối phương”. Trong đó, việc sử dụng ngôn ngữ.
để xây dựng các hình ảnh tương phản, các mệnh đề khẳng định hoặc phủ định của báo chí có vai trò hết sức quan trọng. Tính chiến đấu của ngôn ngữ báo chí được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau như: phủ định hoàn toàn hay châm biếm, đả kích nhằm hạ uy thế, uy tín của đối tượng.4 Chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn ngôn ngữ trong báo chí 1.1 Chuẩn mực ngôn ngữ ¡, đồng thời là sự nghiệp của xã hội. Sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực là việc không phải dễ dàng và cần " được mỗi người tự ý tức trau dồi kiến thức để sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực trong suốt cuộc đời. Chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử.
Ngôn ngữ chuẩn mực trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ. Nó là cơ sở cho người nói hay người viết tạo lập lồi nói. hay tạo lập văn bản, cũng là cơ sở cho người nghe hay người đọc lĩnh hội được lời nói hay văn bản đó. Chuẩn ngôn ngữ bao gồm: chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp, chuẩn phong.
Chuẩn ngôn ngữ trước tiên là phải chuẩn hóa về từ vựng. Từ vựng chuẩn là những từ được trau chuốt, gọt giữa, đã được sàng lọc để phục vụ hữu hiệu nhất cho. yêu cầu giao tiếp văn hóa của toàn dân tộc. Chuẩn từ vựng được hình thành dần dần trong quá trình sử dụng.
Nói cách khác, chuẩn từ vựng vận động phát triển theo thời gian. Chuẩn hóa từ vựng thuộc phạm trù quy phạm hóa ngôn ngữ. ngôn ngữ là kết quả nhận thức khoa học về những quy luật thể hiện chuẩn ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển ngôn ngữ, là sự tập hợp những quy luật về cách dùng từ và các hình thái trong mọi phong cách của ngôn ngữ văn hóa Nội dung của chuẩn hóa từ vựng bao gồm ở cả ba mặt: mặt ý nghĩa của từ, mặt ngữ âm của từ, mặt chữ viết của từ. Về mặt ngữ nghĩa, một đơn vị từ vựng hợp chuẩn là đơn vị có khả năng diễn đạt chính xác nhất nội dung cần diễn đạt, tự thân nó lại ngắn gọn, không gây hiểu.
'Về mặt ngữ âm, hệ thống ngữ âm của tiếng Việt được hình thành dẫn dần trên. cơ sở phương ngữ Bắc Bộ với sự bổ sung thêm một. tố của các phương ngữ.