mở đầu cái mà dư luận thế giới gọi là “ngoại giao bóng bàn”, mở ra một cuộc khai thông về ngoại giao giữa hai nước thông qua hoạt động của tổ chức nhân 12 dân. Nửa đầu năm 1971, Mỹ hủy bỏ những hạn chế đối với các nhà báo và công dân Mỹ sang thăm Trung Quốc, hủy bỏ hầu như hoàn toàn các biện pháp ngăn cản giao dịch buôn bán và tài chính của Trung Quốc. Tiếp đấy, trong hai ngày 9 và 10/7/1971, Kissinger, đặc phái viên của Nixon sang thăm Trung Quốc lần đầu tiên. Vấn đề Đài Loan được đưa ra trao đổi và được coi là vấn đề khó giải quyết nhất giữa Trung Quốc và Mỹ.
Trước đó, ngày 21/6/1971, Chu-Ân-Lai đã tuyên bố với các nhà báo Mỹ ở thăm Trung Quốc trong một cuộc phỏng vấn rằng trở ngại then chốt đối với việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Mỹ là sự bảo hộ quân sự mà Mỹ dành cho Đài Loan theo hiệp ước phòng thủ chung ký năm 1954 giữa Mỹ và chính phủ Cộng hòa Trung Hoa. Trong hội đàm với Kissinger, phía Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề Đài Loan để tiến lên bình thường hóa quan hệ với Mỹ, đòi không được có hai nước Trung Hoa và ra điều kiện: Trung Quốc sẽ không gia nhập Liên Hợp Quốc, chừng nào chính phủ Cộng hòa Trung Hoa còn có đại diện ở đó. Trung Quốc hết sức lợi dụng khó khăn của Mỹ muốn rút quân ở miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được Ngụy quyền để ép Mỹ và đánh đổi vấn đề Đài Loan. Mỹ cũng lợi dụng ý đồ Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề Đài Loan để buộc Trung Quốc gây sức ép với Việt Nam thỏa hiệp với Mỹ.
Lúc này đã có nhiều nước rút sự công nhận ngoại giao đối với Đài Bắc và dành sự công nhận đó cho Bắc Kinh, do đó công khai hoặc mặc nhiên chấp nhận luận điểm rằng Đài Loan chỉ là một tỉnh của Trung Quốc, cần đặt dưới quyền kiểm soát của Bắc Kinh và tương lai của nó là một vấn đề nội bộ không một nước ngoài nào có quyền can thiệp. Cuộc đi thăm của Kissinger và việc Nixon sẽ thăm Trung Quốc là một bước quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ với nước CHND Trung Hoa, chắc chắn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển sự công nhận từ Đài Bắc sang Bắc Kinh. Ngày 26/10/1971, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết công nhận CHND Trung Hoa gia nhập Liên Hợp Quốc thay ghế của Đài Loan kể cả ghế ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an. 13 Sau chuyến đi thăm Trung Quốc của Kissinger, ngày 15/7/1971, Nixon đã thông báo việc Trung Quốc đã mời tổng thống Mỹ sang thăm Trung Quốc và ông đã nhận lời.
Bước ngoặt trọng đại trong quan hệ Trung – Mỹ đã được đánh dấu bằng sự ra đời của bản Thông cáo Thượng Hải được hai bên tuyên bố trong chuyến đi thăm Trung Quốc này của tổng thống Nixon. Bản Thông cáo Thượng Hải có những nội dung chính như sau:[208] + Đề cập đến tình hình Đông Dương, Chính phủ Mỹ khẳng định lại mục đích của mình là tìm cách giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng, giữ vững quan hệ chặt chẽ với Nam Triều Tiên và Nhật Bản. + Chính phủ Trung Quốc khẳng định “sự ủng hộ vững chắc” nhân dân Đông Dương, mong muốn thấy Triều Tiên thống nhất, phản đối việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật. + Trong vấn đề Đài Loan, Mỹ công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc, nhưng phản đối việc dùng vũ lực để thống nhất Đài Loan; Trung Quốc không đặt việc rút ngay quân đội Mỹ khỏi Đài Loan và chấm dứt quan hệ với Đài Loan là điều kiện để phát triển quan hệ với Mỹ.
+ Thỏa thuận cùng phối hợp hành động để phát triển sự hợp tác và trao đổi khoa học kĩ thuật, văn hóa, thể thao, thương mại giữa hai nước. Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon và việc ký kết thông cáo chung Thượng Hải đánh dấu bước khởi đầu bình thường hóa quan hệ Trung – Mỹ, mở đường cho quan hệ song phương phát triển, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Trung – Mỹ. Song, liên quan đến cục diện và tình hình khu vực Đông Nam Á và bán đảo Đông Dương, bước ngoặt của quan hệ Mỹ – Trung đã có tác động khá quan trong trọng theo chiều hướng xấu. Cấu kết với đế quốc Mỹ, những người cầm quyền Trung Quốc dùng đủ mọi cách cản trở nhân dân Việt Nam đánh sụp hoàn toàn ngụy quyền, ngụy quân của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đồng thời tăng cường hành động lấn chiếm đất đai của Việt Nam.
14 Trung Quốc thực hiện ý đồ phản động này bằng việc gây ra tình hình không ổn định ở biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Khi chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đề nghị với chính phủ Trung Quốc tiến hành đàm phán về đường biên giới trong vịnh Bắc Bộ và đường biên giới trên bộ thì Trung Quốc khước từ đề nghị nói trên của Việt Nam. Sau đó Trung Quốc vừa chấp nhận đàm phán với Việt Nam vừa dùng lực lượng hải quân và không quân đánh quân Sài Gòn và chiếm quần đảo Hoàng Sa, từ lâu vốn là lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc với ý đồ tìm cách ngăn chặn Việt Nam thăm dò vịnh Bắc Bộ đã làm cho cuộc đàm phán về đường biên giới ở vịnh Bắc Bộ không đem lại kết quả tích cực.
Trung Quốc luôn thể hiện thái độ không tham gia, không ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, dù trước kia Trung Quốc từng viện trợ cho miền Bắc Việt Nam. Trên thực tế công cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam chủ yếu sử dụng trang thiết bị vũ khí của Trung Quốc. Chính vì vậy, để bắt tay với Mỹ thì Trung Quốc không can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Thay vào đó Mỹ phải công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc.
Mặc dù sự cấu kết của Mỹ và Trung Quốc đã gây nhiều khó khăn và tổn thất lớn cho nhân dân Việt Nam nhưng cuối cùng nhân dân Việt Nam đã chiến thắng và đế quốc Mỹ đã buộc phải ký hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Rõ ràng Bắc Kinh và đế quốc Mỹ có nhiều lợi ích đi đôi với nhau, mà trước hết là lợi ích chống phong trào cách mạng thế giới và chống Liên Xô. Bắc Kinh và Mỹ đi với nhau còn có lợi ích riêng của mỗi nước là góp phần phá hoại quan hệ giữa Liên Xô và Mỹ, giữa Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng sự phản bội cách mạng của Bắc Kinh vẫn chưa đưa họ lên vị trí cường quốc lớn thứ ba được, cũng như thế ba cực vẫn chưa hình thành trên thế giới.
Sự phản bội đó đã làm cho Mỹ thêm ngoan cố. Lợi ích bá quyền và bành trướng của Bắc Kinh đã mâu thuẫn sâu sắc với lợi ích của cách mạng thế giới. Sự phản bội Việt Nam của Bắc Kinh, tuy có gây nhiều khó khăn cho nhân dân Việt Nam, nhưng không thể ngăn cản nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975 15 xóa bỏ một trong những cơ sở thỏa thuận giữa Mỹ và Bắc Kinh. Bắc Kinh càng lao sâu vào chủ nghĩa bành trướng bá quyền phản bội cách mạng, càng chuốc lấy những thất bại sâu cay hơn.
Sự phản bội của Trung Quốc trong giai đoạn những năm 70/XX gây tổn thất to lớn cho cách mạng thế giới nhưng không xoay chuyển được xu thế phát triển của cách mạng thế giới, không làm thay đổi được so sánh lực lượng trên thế giới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không ngừng phát huy tác dụng là nhân tố quyết định chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế. Khu vực Đông Nam Á giai đoạn “Sau chiến tranh Việt Nam” Chiến tranh Việt Nam kết thúc đã dẫn tới một cục diện mới ở Đông Nam Á. Thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và Đông Dương mở ra khả năng phát triển hòa bình, độc lập và tự chủ cho các quốc gia trong khu vực.
Tuy nhiên, lịch sử Đông Nam Á trong vòng 15 năm (1975 – 1989) đã chứng kiến những thăng trầm đầy kịch tính dưới tác động của những nhân tố bên trong và bên ngoài khu vực, trong sự đan xen lợi ích khác nhau của các cường quốc và ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh lạnh đang tiếp diễn. Ở bình diện thế giới, từ năm 1973, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bước vào thời kỳ khủng hoảng và trì trệ kéo dài. Cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự sa sút của nền kinh tế Mỹ, thêm vào đó, sự thất bại trong Chiến tranh Việt Nam làm cho tình hình kinh tế chính trị nước Mỹ trở nên tồi tệ hơn. Quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, nhưng mục tiêu của Mỹ là vẫn muốn duy trì ảnh hưởng ở Đông Nam Á bằng biện pháp quân sự, kinh tế truyền thống.
Mỹ chủ trương hòa hoãn với bên ngoài, củng cố tình hình trong nước, khôi phục sản xuất để chi phối các đồng minh. Bên cạnh đó, Mỹ lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung để cô lập Liên Xô, cải thiện quan hệ với Trung Quốc và từng bước thúc đẩy “tam giác chiến lược” Mỹ – Xô – Trung. Sự rút lui của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á đã khuyến khích các nước lớn quan tâm nhiều hơn đến khu vực này. Cuộc tranh giành ảnh hưởng của ba nước lớn Mỹ – Xô – Trung, đặc biệt là sự xích lại gần nhau giữa Mỹ và Trung Quốc đã tác động mạnh mẽ đến tình hình Đông Nam Á.
Chính sự tranh chấp giữa các nước lớn 16 đã trở thành một trong những nguyên nhân làm cho Đông Nam Á tiếp tục là một điểm nóng trong thập niên cuối cùng của Cuộc chiến tranh lạnh. Về phía khu vực, thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đã tạo điều kiện cho các nước ASEAN khả năng độc lập, tự chủ hơn trong chính sách chiến lược đối ngoại. Theo đề nghị của các nước ASEAN, khối quân sự SEATO đã giải thể tháng 6/1976, Thái Lan yêu cầu Mỹ rút căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước này, Philippines cũng đề nghị Mỹ xem xét lại các hiệp ước quân sự ký kết năm 1971. Để đối phó với tình hình mới, ngay từ tháng 2/1976 tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất của ASEAN, các nước ASEAN đã ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (Hiệp ước Bali) nhằm xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định, thể hiện xu hướng mong muốn cải thiện quan hệ với các nước Đông Dương.