chương 1. Quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo Võ Thị Hảo có một niềm đam mê sâu sắc đối với văn chương. Từ nhỏ chị đã thích đọc sách, rồi tập làm thơ từ rất sớm và cũng có suy nghĩ sẽ trở thành nhà thơ. Nhưng duyên số lại đưa chị đến với nghề báo, để không biết tự bao giờ cái nghiệp văn chương bén rễ và trở thành một nỗi ám ảnh không dứt đối với chị, cho dù cuộc sống gia đình riêng nhiều khó khăn vất vả và ngay cả người bạn đời cũng không ủng hộ chị theo đuổi nó.
Xuất hiện trên văn đàn vào những năm cuối của thập niên 80, truyện ngắn đầu tiên của Võ Thị Hảo đăng trên báo Phụ nữ thủ đô năm 1989 là truyện “Người gánh nước thuê”. Câu chuyện kể về số phận của những người nghèo khổ, dị dạng đã nhận được nhiều đồng cảm nơi người đọc. Tạo được dấu ấn ngay trong tác phẩm đầu tiên ra mắt, suốt hơn 10 năm tiếp theo, Võ Thị Hảo từng bước khẳng định tên tuổi của mình ở mảng truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh và số phận của con người trong thời hậu chiến. Người ta bắt đầu chú ý nhiều hơn đến cái tên Võ Thị Hảo qua những truyện ngắn “lạ” như: Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Biển cứu rỗi, Vườn yêu… Tác phẩm của chị được công chúng đón nhận và chờ đợi.
Sáng tác của chị được tuyển tập và in chung với nhiều tác giả khác, chị được đánh giá là một trong những cây bút nữ tiêu biểu của văn học sau những năm đổi mới. Năm 2003, Võ Thị Hảo đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp bằng việc cho ra đời tiểu thuyết dã sử Giàn thiêu. Tác phẩm gây tiếng vang lớn trên văn đàn bởi cách viết mê hoặc, huyền ảo, cách tiếp nhận và đánh giá lịch sử một cách uyển chuyển, mới mẻ, đánh dấu những bước đi mới cho thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Năm 2005, Võ Thị Hảo cho in lại toàn bộ sáng tác của mình gồm bốn tập truyện ngắn và một tiểu thuyết.
Những năm gần đây, nhà văn Võ Thị Hảo vẫn tiếp tục công việc sáng tác và dự định sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm mà chị đã ấp ủ nhiều năm qua. Tác phẩm đã in của Võ Thị Hảo - Truyện ngắn (bốn tập): Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. - Tiểu thuyết: Giàn thiêu. Các giải thưởng đã đạt được - Giải cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn NXB Hà Nội 1991.
- Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cho tiểu thuyết Giàn thiêu năm 2004. - Giải 5 năm văn học Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam. Quan niệm nghệ thuật của Võ Thị Hảo 1. Văn chương và sứ mệnh của nhà văn Võ Thị Hảo là người có quan điểm về văn chương rất rõ ràng và nghiêm túc.
Trong nhiều bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, chị đã không ít lần bày tỏ thái độ của mình về vai trò của văn chương và sứ mệnh cao cả của nhà văn. Võ Thị Hảo từng nói: “văn chương là nơi thổ lộ những khát vọng, những nỗi đau lớn của kiếp người. Sứ mệnh của nhà văn là chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri”. Điều mà Võ Thị Hảo tâm đắc nhất khi nói về văn chương chính là khả năng “nói thật” của nó.
Theo chị, văn chương đi ra khỏi sự thật thì chỉ là thứ văn chương trưởng giả, phù phiếm. Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự thật. Chị nói: “Thiên chức nhà văn là tôn trọng tự nhiên. Tự nhiên nghĩa là sự thật.
Như những con sóng biển và gió vẫn đêm ngày cồn cào đến với đất liền. Khi nhà văn mà chối bỏ sự thực viết dối trá và đứng ngoài những nỗi đau, khát vọng cũng như khát vọng thật sự của con người khi ấy, nhà văn đó trở nên nguy hiểm cho đồng loại” [14]. Những khát vọng mà Võ Thị Hảo gửi gắm qua văn chương chính là khát vọng tự do, công lý, khát vọng được hạnh phúc, yêu thương và chia sẻ. Nói về Giàn thiêu, Võ Thị Hảo cho rằng: “Một trong những thông điệp của Giàn thiêu: Dựng giàn thiêu người trên đảo Âm Hồn, đốt sách mổ bụng moi gan người dưới đoạn đầu đài, hay bất cứ cực hình nào đó cũng không thiêu hủy được sự thật, khát vọng tự do và công lý” [21].
Hình tượng Lê Thị Đoan trong tác phẩm này chính là một sự hóa thân của tác giả. Võ Thị Hảo đã gửi gắm trong đó rất nhiều những tư tưởng, khát vọng, quan niệm của chị đối với văn chương. Lê Thị Đoan có thể được xem là một chân dung “lạc điệu” của thời đại. Đã “bạo gan” giả trai đi thi chỉ với một mong muốn “đem chút tài hèn nhi nữ mà giúp rập quốc gia”, chí nguyện không thành vì tiểu nhân hãm hại, bà vẫn hiên ngang vạch trần những tội ác man rợ, tố cáo những kẻ lộng quyền, ỷ thế, gieo rắc tai họa cho nhân dân.
Cái chết tức tưởi của bà chính là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của lương tri và công lý. Đó là sự phản kháng cuối cùng của một con người không thỏa hiệp với cái ác, không vì mưu cầu danh lợi mà trở thành bọn ca công “uốn lưỡi nịnh hót xum xoe”, bẻ cong ngọn bút của mình. Con người bà có thể bị lấp vùi trong tro bụi, nhưng văn chương của bà vẫn tồn tại với thời gian và bất tử trong lòng nhân dân. Nói như quan Tham tri chính sự Từ Văn Thông: “Dù có đem đốt cả ngàn vạn lần cuốn sách “Lê Thị Đoan trước tác” thì cuốn sách vẫn cứ nhơn nhơn tồn tại, vì chúng đã ăn vào trong ruột kẻ có chữ và còn được lưu truyền không mệt mỏi trên miệng bọn dân đen”.
Và “sở dĩ chúng đi thun thút vào bụng dạ chúng dân, là bởi tài cao học rộng, bởi văn chương cái thế, bởi gan óc tế thế kinh bang đẫm trên từng trang, bởi mụ ta không viết điều gì ngoài sự thật” [Giàn thiêu, 508, 509]. Cho nên một tác phẩm văn chương đích thực phải là một tác phẩm có ích cho cuộc đời, nó có khả năng “thanh lọc” tâm hồn (chữ dùng của Thạch Lam). Dù người ta có gán cho nó là “tà thư” hay “lộng ngôn sáo ngữ” thì nó vẫn cứ là “chính văn chính sử” trong lòng những người biết phân biệt phải trái trắng đen. Chính quan Gián nghị đại phu Mâu Du Đô, một người còn có chút lương tri trong triều đình đã nói: “sách nào, chữ nào có ích cho dân cho nước, sách nào chữ nào khiến cho người đọc cầm cuốn sách trên tay mà như cầm tấm gương soi lại chính mình, đọc chữ nào thì chữ đó là lời khen tiếng chê ứng mỗi hành vi cử chỉ, tâm tình thiện ác của chính mình thì sách đó, chữ đó là chính văn chính sử” [GT, 511].
Và để tạo nên những trước tác để đời như thế không phải người cầm bút nào cũng có thể làm được. “Chỉ có người nào trên hiểu lẽ trời, dưới hiểu lẽ đời, ngày ngày ăn chung bát cơm gạo hẩm, húp chung bát cháo cầm hơi, đêm đêm chia sẻ manh chiếu rách với kẻ khốn cùng nhất trong thiên hạ, nung nấu trong lòng mộng ước cứu đời cứu người, làm cho dân thịnh nước cường thì mới có thể cầm bút viết nên những dòng như thế” [GT, 512]. Chính khát vọng tự do đã khiến cho rất nhiều nhân vật của Võ Thị Hảo lựa chọn con dường “không thỏa hiệp” như Lê Thị Đoan. Một nhà phê bình đã nói những người đàn bà trong sáng tác của Võ Thị Hảo thường hay “nổi loạn” là như thế.
Một tiểu thư Nhuệ Anh (Giàn thiêu) yêu hết mình, sống hết mình, sẵn sàng chết cho tình yêu với chàng thư sinh Từ Lộ, nhưng đến khi đối diện với một Thần Tông (hậu thân của Từ Lộ) ngất ngưỡng trên ngai vàng mà tình yêu đối với nàng vẫn còn ám ảnh trong tiềm thức, nàng đã không chần chừ lựa chọn ra đi. Mặc dù đằng sau chiếc áo cà sa thoát tục kia vẫn nguyên vẹn một trái tim đập cho tình yêu thời tuổi trẻ, nhưng cái tự do tuyệt đối trong trái tim nàng mới là điều nàng mong cầu lớn nhất. Một nàng H’Điêu nguyện làm một cây chanh lẻ loi cô độc suốt ngàn năm, chứ không muốn tái sinh để rồi lại tiếp tục làm một người đàn bà “ngây thơ, bị chồng nghi ngờ, dằn vặt rồi phụ bạc”, và “sẽ lại biến thành cây chanh cô đơn bên bờ suối cạn mà thôi” (Khát của muôn đời – Hồn trinh nữ). Hay chính vì bảo vệ công lý mà Nữ hoàng Pháp luật cũng trở thành một nữ hoàng cô độc, chấp nhận bị giam cầm ngàn năm trong vương quốc của thần Tiền Tài và Dục Vọng, chứ không thể nào thỏa hiệp với chúng, nàng cũng không thể nào thuộc về bất cứ một ai, bởi vì “nếu không, cán cân công lý sẽ nghiêng lệch” (Nữ hoàng cô đơn).
Quá trình đấu tranh cho công lý của rất nhiều nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo có lúc thành công nhưng phần lớn là thất bại hoặc thành công phải đánh đổi bằng một cái giá nào đó. Nhưng dù sao đi nữa thì văn chương của chị cũng là một tiếng kêu đòi công lý, quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc cho con người. Chị nói: “đối tượng của những, truyện ngắn, bài báo của tôi là nhân tính và sự bất bình trong xã hội” [tôi vốn là người đàn bà thích được che chở]. Với Võ Thị Hảo, khi nào cuộc sống còn khổ đau, khi đó văn chương còn tồn tại.
Đó là nơi con người tìm thấy sự đồng cảm và trải nghiệm cuộc sống đích thực. Cho nên chị ý thức rất cao sứ mệnh của một nhà văn đối với xã hội. Nhà văn phải là người biết chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri con người. Võ Thị Hảo thường xuyên sử dụng những từ như “mang”, “vác”, “trả nợ”, gánh nợ”, “chia sẻ”, “đồng hành” để nói về trách nhiệm của một nhà văn.
Từ suy nghĩ về số phận của nhà văn Lê Đạt (một nạn nhân của phong trào Nhân văn – Giai phẩm) chị khái quát chung về số phận của những người đeo nghiệp văn chương, chị ví họ như những người “vác thập giá chữ” trên đôi vai của mình. Những bước đi nặng nhọc giữa cuộc đời. Nhưng số phận của họ là như thế, không thể nào không mang vác, chỉ có cái chết mới có thể kết thúc cuộc hành trình của họ. Đó là một sự lựa chọn sòng phẳng mà cũng vô cùng khắc nghiệt đối với một nhà văn chân chính.