Tổng quan nghiên cứu
Nà Lữ thuộc huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng là một cánh đồng cổ nằm ở tọa độ trung tâm bồn trũng sông Bằng, giữ vai trò đặc biệt xung yếu trong suốt 10 thế kỷ lịch sử từ thế kỷ IX đến nửa đầu thế kỷ XIX. Nằm ở độ cao trung bình từ 250m đến 350m so với mực nước biển, cách thị xã Cao Bằng khoảng 10km về phía Đông Nam và cách thị trấn Nước Hai 6km về phía Tây Bắc, Nà Lữ vừa là cái nôi nông nghiệp lúa nước màu mỡ, vừa là phên dậu thứ tư bảo vệ biên cương phía Bắc nước ta. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tái hiện diện mạo toàn diện về địa lý, lịch sử, kinh tế và văn hóa của vùng đất Nà Lữ qua các biến thiên thời cuộc.
Mục tiêu cụ thể của công trình tập trung vào việc khôi phục tiến trình lịch sử Nà Lữ từ thời tiền sơ sử, giai đoạn xây dựng căn cứ quân sự nhà Đường năm 866, thời kỳ trung tâm cát cứ của Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao thế kỷ XI, cho đến 85 năm giữ vị trí kinh đô của nhà Mạc từ năm 1592 đến năm 1677. Phạm vi khảo sát không gian bao quát 9 xóm lịch sử thuộc xã Hoàng Tung hiện nay, gắn liền với trục giao thông thủy bộ dọc sông Bằng dài 3km. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài được lượng hóa rõ rệt: bổ sung nguồn tư liệu gốc từ 12 tập địa bạ thời Nguyễn lập các năm 1805 và 1840, đồng thời giải mã hiện tượng tiếp biến tộc người Kinh già hóa Thổ tại một địa bàn có hơn 80% địa danh mang gốc ngôn ngữ Tày.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết trung tâm và ngoại vi trong nghiên cứu lịch sử địa phương, nhìn nhận Nà Lữ như một trung tâm quyền lực chính trị quân sự khu vực biên viễn trong mối quan hệ đa chiều với chính quyền trung ương Đại Việt và các triều đại phong kiến phương Bắc. Đồng thời, lý thuyết tiếp biến văn hóa được tích hợp nhằm phân tích sự tương tác, hòa hợp giữa các cộng đồng cư dân di cư và cư dân bản địa qua nhiều thế kỷ.
Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên trục không gian địa bàn xã phường kết hợp tiến trình thời gian tuyến tính từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Bốn khái niệm công cụ cốt lõi xuyên suốt luận văn bao gồm: chế độ cát cứ quân sự địa phương, hiện tượng Kinh già hóa Thổ, địa bạ phong kiến triều Nguyễn và mô hình kinh tế nông lâm kết hợp miền sơn cước.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác đa tầng, bao gồm chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục; sách địa chí như Cao Bằng thực lục năm 1810 của Bế Hựu Cung, Cao Bằng tạp chí năm 1921 của Bế Huỳnh; cùng nguồn tư liệu khảo sát điền dã phong phú gồm văn bia, câu đối đền Vua Lê, gia phả các dòng họ lớn. Mẫu khảo sát định lượng gồm 12 bản địa bạ thuộc tổng Hà Đàm, trong đó tiêu biểu là địa bạ phường Nà Lữ lập năm Gia Long thứ 4 năm 1805 với diện tích 344 mẫu 7 sào 3 thước 3 tấc và địa bạ năm Minh Mệnh thứ 21 năm 1840 với 347 mẫu 1 sào 13 thước 3 tấc.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng đối với địa bạ phường Nà Lữ nhằm đảm bảo tính bao quát 100% các đơn vị ruộng đất thực tế. Tác giả kết hợp phương pháp lịch sử và logic với phương pháp hồi cố từ hiện đại về quá khứ, giải thích nguồn gốc hiện tượng xã hội thông qua 11 di vật đá thời tiền sử tại Ngườm Bốc và công cụ ghè 2 mặt dài 14cm tìm thấy tại Hào Lịch. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp liên ngành nhân học, văn hóa học dân gian và thống kê học là nhằm bù đắp sự thiếu hụt văn bản thư tịch cổ, phục dựng chân thực bức tranh đời sống xã hội trong khung timeline hơn 1.000 năm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn xác định Nà Lữ là thủ phủ quân sự hành chính xuất hiện rất sớm ở biên cương phía Bắc. Tháng 4 năm Hàm Thông thứ 7 năm 866, Tiết độ sứ Cao Biền đã cho đắp thành Nà Lữ cùng thành Phục Hòa nhằm thiết lập căn cứ phòng thủ chống quân Nam Chiếu. Đến thế kỷ XI, nơi đây trở thành đại bản doanh lập nước Trường Sinh năm 1038 của Nùng Tồn Phúc và nước Đại Lịch năm 1041 của Nùng Trí Cao. Sau đó, từ năm 1592 đến năm 1677, vương triều Mạc xác lập kinh đô tại Nà Lữ và Cao Bình suốt 85 năm, xây dựng thành quách kiên cố và đổi xã Nà Lữ thành phường Nà Lữ.
Thứ hai, việc khai thác địa bạ đầu thời Nguyễn chứng minh ruộng đất tư hữu tại Nà Lữ chiếm ưu thế tuyệt đối xấp xỉ gần 100%. Toàn bộ diện tích canh tác năm 1840 gồm 347 mẫu 1 sào 13 thước 3 tấc đều thuộc quyền sở hữu tư nhân, không ghi nhận sự tồn tại của ruộng công làng xã. Trong cơ cấu chất lượng đất, ruộng hạng ba chiếm tỷ lệ áp đảo 56,7%, ruộng hạng hai chiếm 43,3%, phản ánh điều kiện canh tác vùng đất trũng ven sông đòi hỏi công sức khai phá, đắp đập bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Thứ ba, nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật biến động dân cư và chứng minh Nà Lữ là không gian điển hình của quá trình giao thoa tộc người. Khảo sát cấu trúc dân cư xã Hoàng Tung ghi nhận 798 hộ gia đình với 3.265 nhân khẩu thuộc 5 dân tộc: người Tày chiếm 83,00% với 2.710 người, người Nùng chiếm 10,02% với 327 người, người Kinh chiếm 6,46% với 211 người, người Mông chiếm 0,34% và người Dao chiếm 0,18%. Hầu hết các dòng họ người Tày tại địa phương như họ Hoàng, họ Lê, họ Nguyễn, họ Bùi đều có nguồn gốc từ người Kinh dưới xuôi lên biên ải định cư qua các thời kỳ năm 1430, 1592 và 1677.
Thảo luận kết quả
Căn nguyên dẫn đến sự thống trị của chế độ tư hữu ruộng đất tại Nà Lữ bắt nguồn từ chính sách khuyến khích khai hoang của nhà Mạc và triều Nguyễn, kết hợp cùng địa hình chia cắt bởi 7 con suối tự nhiên đổ ra sông Bằng. Dữ liệu địa bạ có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cơ cấu sở hữu đất đai và bảng phân bố hạng ruộng, thể hiện rõ tính chất kinh tế hàng hóa sơ kỳ phá vỡ quan hệ công xã truyền thống.
So sánh với các ghi chép của học giả người Pháp Paul Marabail đầu thế kỷ XX, kết quả nghiên cứu khẳng định tính liên tục của thiết chế văn hóa bản địa. Hiện tượng Kinh già hóa Thổ tại Nà Lữ không làm mai một bản sắc mà ngược lại đã làm giàu thêm văn hóa vùng thung lũng Hòa An qua tiếng nói song ngữ Tày - Việt, tạo nên mẫu hình cộng cư đoàn kết chống thiên tai, giặc ngoại xâm suốt nhiều giai đoạn lịch sử.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, quy hoạch khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 100% diện tích di tích lịch sử thành cổ Nà Lữ và đền Vua Lê. Mục tiêu đến năm 2027 hoàn thành việc cắm mốc ranh giới bảo vệ cấp 1 và cấp 2, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Hòa An thực hiện.
Thứ hai, triển khai đề án số hóa toàn diện hệ thống văn bia, câu đối, gia phả và 12 tập địa bạ Hán Nôm liên quan đến Nà Lữ. Phấn đấu đạt tỷ lệ 100% tư liệu cổ được chuyển đổi số lưu trữ định dạng chất lượng cao trong giai đoạn 2026 - 2028, do Trung tâm Lưu trữ Lịch sử tỉnh phối hợp với các viện nghiên cứu chuyên ngành đảm trách.
Thứ ba, xây dựng tuyến du lịch di sản văn hóa tâm linh kết nối Nà Lữ - đền Vua Lê với di tích thành Bản Phủ và cụm di tích Lam Sơn. Phấn đấu tăng trưởng lượng du khách tham quan đạt mức 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2027 - 2030, do Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Hòa An điều phối cùng các doanh nghiệp lữ hành.
Thứ tư, biên soạn tài liệu giáo dục lịch sử địa phương chuyên sâu về truyền thống văn hóa và hiện tượng giao thoa tộc người Nà Lữ. Hoàn thành việc đưa tài liệu vào giảng dạy tại 100% các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn huyện trước niên khóa 2027 - 2028 dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hòa An.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhà nghiên cứu lịch sử và nhân học: Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học về 85 năm trị vì của triều Mạc tại Cao Bằng và quá trình chuyển dịch tộc danh, hỗ trợ đắc lực cho các đề tài chuyên khảo về lịch sử bang giao, biên giới phía Bắc.
Học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử, Việt Nam học: Tài liệu là mẫu hình nghiên cứu thực tế về phương pháp bóc tách tư liệu địa bạ thế kỷ XIX và phương pháp điền dã văn hóa dân gian tại 9 xóm bản miền núi.
Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Dữ liệu thống kê về 5 thành phần tộc người và hiện trạng di tích là căn cứ pháp lý quan trọng để lập hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, xây dựng kế hoạch bảo tồn tri thức bản địa.
Chuyên gia phát triển du lịch di sản: Bản thuyết minh chi tiết về 12 giếng cổ, cấu trúc thành lũy và truyền thuyết Pú Lương Quân là nguồn chất liệu chuẩn xác để xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa lịch sử độc đáo.
Câu hỏi thường gặp
Thành cổ Nà Lữ được xây dựng lần đầu tiên vào thời điểm nào? Thành được khởi dựng vào tháng 4 năm 866 dưới thời Tiết độ sứ Cao Biền triều Đường cùng với thành Phục Hòa. Công trình này được thiết lập như một căn cứ quân sự then chốt nhằm phòng thủ chống lại các đợt tấn công của quân Nam Chiếu.
Bản chất của hiện tượng Kinh già hóa Thổ tại Nà Lữ là gì? Đây là tiến trình các nhóm người Kinh di cư lên Cao Bằng theo nghĩa quân Lê Lợi năm 1430, binh lính nhà Mạc sau năm 1592 và tướng sĩ Lê - Trịnh sau năm 1677 kết hôn với phụ nữ Tày bản địa. Con cháu họ qua nhiều thế hệ đã tiếp nhận phong tục, ngôn ngữ Tày nhưng vẫn gìn giữ gia phả gốc Việt.
Chế độ sở hữu ruộng đất ở Nà Lữ đầu thế kỷ XIX có điểm gì đặc biệt? Theo địa bạ năm 1805 và năm 1840, chế độ tư hữu chiếm gần như tuyệt đối 100% với tổng diện tích hơn 347 mẫu. Đáng chú ý là không xuất hiện loại hình ruộng công làng xã, trong đó ruộng hạng ba chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,7%.
Nhà Mạc đã đóng đô tại Nà Lữ trong bao nhiêu năm? Vương triều Mạc đóng đô và duy trì chính quyền cát cứ tại Nà Lữ và Cao Bình suốt 85 năm, kéo dài từ năm 1592 sau khi thất thủ ở Thăng Long cho đến khi thất bại hoàn toàn vào năm 1677 trước quân đội Lê - Trịnh.
Tại sao địa danh Nà Lữ lại bắt nguồn từ tiếng Tày cổ? Tên gọi Nà Lữ là biến âm của từ Nà Lậc trong tiếng Tày cổ, có nghĩa là cánh đồng trũng sâu nhiều bùn lầy. Kết quả khảo sát cho thấy hơn 80% địa danh sông núi, đồng ruộng quanh vùng đều mang gốc tiếng Tày, phản ánh lịch sử cư trú bản địa lâu đời.
Kết luận
- Luận văn đã phục dựng toàn diện tiến trình lịch sử 1.000 năm của Nà Lữ từ căn cứ quân sự thế kỷ IX đến trung tâm kinh tế xã hội nửa đầu thế kỷ XIX.
- Khai thác thành công 12 tập địa bạ thời Nguyễn, chứng minh chế độ tư hữu ruộng đất chiếm gần 100% trên tổng diện tích 347 mẫu canh tác.
- Làm sáng tỏ quy luật tiếp biến văn hóa Kinh già hóa Thổ qua cơ cấu dân số gồm 83,00% người Tày tại 9 xóm lịch sử thuộc xã Hoàng Tung.
- Tái hiện chân thực vai trò kinh đô kháng cự 85 năm của nhà Mạc giai đoạn 1592 - 1677 cùng hệ thống thành lũy và sinh từ đền Vua Lê.
- Đóng góp nguồn tư liệu điền dã quý báu gồm 11 hiện vật khảo cổ học tiền sử, văn bia, câu đối và các cuốn gia phả dòng họ tiêu biểu.
Công trình tạo tiền đề khoa học vững chắc cho các bước nghiên cứu khảo cổ học tiếp theo nhằm khai quật chân xác quy mô thành cổ Nà Lữ trong giai đoạn 2026 - 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm hãy cùng chung tay bảo tồn, số hóa di sản và phát huy giá trị văn hóa lịch sử đặc sắc của vùng đất biên viễn Cao Bằng.