Lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm trong cải lương và giáo dục khoa cử

Tài liệu nghiên cứu Luận văn lịch sử ngôn ngữ hán nôm cải lương giáo dục khoa cử, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về giáo dục.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

150
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ngôn ngữ Hán Nôm và lịch sử ngôn ngữ

Ngôn ngữ Hán Nôm, một phần quan trọng trong văn hóa và giáo dục Việt Nam, đã có lịch sử phát triển lâu dài. Trong bối cảnh cải lương giáo dục khoa cử từ năm 1906 đến 1919, ngôn ngữ này đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền tải tri thức và văn hóa. Lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm không chỉ phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn thể hiện sự biến đổi của xã hội Việt Nam dưới ảnh hưởng của thực dân Pháp. Những tác phẩm văn học Hán Nôm đã để lại di sản văn hóa quý giá, góp phần định hình tư tưởng và giáo dục của dân tộc. Chương trình cải lương giáo dục khoa cử đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong cách thức giảng dạy và học tập ngôn ngữ Hán Nôm, giúp thế hệ mới tiếp cận với tri thức hiện đại hơn.

1.1. Di sản văn hóa và văn học Hán Nôm

Di sản văn hóa Hán Nôm là một phần không thể thiếu trong nền văn học Việt Nam. Các tác phẩm Hán Nôm không chỉ là tài liệu học tập mà còn là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của người Việt Nam qua các thời kỳ. Trong giai đoạn cải lương giáo dục, việc biên soạn tài liệu học tập dựa trên văn học Hán Nôm đã giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc giảng dạy mà còn trong việc xây dựng nhận thức văn hóa cho thế hệ trẻ, góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.

II. Cải lương giáo dục và khoa cử trong giai đoạn 1906 1919

Chương trình cải lương giáo dục khoa cử từ 1906 đến 1919 được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu của thực dân Pháp. Hệ thống giáo dục lúc này được chia thành ba cấp: Ấu học, Tiểu học và Trung học, với mục tiêu chuyển từ giáo dục truyền thống sang giáo dục phổ thông hiện đại. Việc thi Hương, thi Hội vẫn được duy trì, nhưng nội dung và phương pháp giảng dạy đã có những thay đổi đáng kể. Tứ Thư được biên soạn lại để phù hợp với chương trình học, thể hiện sự chuyển mình của nền giáo dục Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Cải lương giáo dục không chỉ giúp nâng cao trình độ học vấn mà còn tạo điều kiện cho việc tiếp cận tri thức mới, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

2.1. Hệ thống giáo dục và vai trò của Tứ Thư

Tứ Thư, với vai trò là một trong những bộ sách giáo khoa quan trọng, đã được biên soạn lại để đáp ứng yêu cầu của chương trình cải lương giáo dục. Việc giảng dạy Tứ Thư không chỉ giúp học sinh hiểu biết về tri thức cổ điển mà còn rèn luyện tư duy phản biện và khả năng phân tích văn bản. Những nguyên tắc biên soạn và phương pháp giảng dạy mới đã được áp dụng, tạo ra một môi trường học tập tích cực và hiệu quả hơn. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Hán Nôm trong xã hội hiện đại.

III. Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo

Phương pháp nghiên cứu trong luận văn này bao gồm việc phân tích văn bản, so sánh và đối chiếu giữa các tài liệu Hán Nôm và các tài liệu hiện đại. Việc sử dụng các phương pháp này không chỉ giúp làm nổi bật nội dung và hình thức của bộ sách Tiểu học Tứ Thư tiết lược mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của ngôn ngữ Hán Nôm trong bối cảnh cải lương giáo dục. Tài liệu tham khảo chủ yếu được lấy từ các tác phẩm nghiên cứu về giáo dục và văn hóa Hán Nôm, cũng như các tài liệu lịch sử liên quan đến giai đoạn 1906 - 1919. Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin trong luận văn.

3.1. Tài liệu và nguồn tư liệu

Các tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn bao gồm sách giáo khoa, tài liệu nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam và các tác phẩm văn học Hán Nôm. Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin cần thiết mà còn là cơ sở để phân tích và đánh giá vai trò của ngôn ngữ Hán Nôm trong giáo dục. Việc nghiên cứu các tài liệu này giúp làm rõ hơn về sự chuyển mình của nền giáo dục Việt Nam trong bối cảnh lịch sử, từ đó góp phần làm sáng tỏ giá trị và ý nghĩa của Tứ Thư trong giáo dục Hán Nôm.

03/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo vàPhụ lục phiên âm dịch nghĩa Đại học vàLuận ngữ đƣợc trích từ Tiểu học Tứ Thư tiết lược 小學四書節略 ra, luận văn đƣợc chia ra làm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cấp Tiểu học và Tiểu học Tứ thư tiết lược 小學四書節略 nhằm giới thiệu Tiểu học nhƣ là một cấp học của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919. Sau đó giới thiệu Tiểu học Tứ thư tiết lược về văn bản học vàkết cấu cũng nhƣ các nguyên tắc tiết lƣợc đã đƣợc vận dụng để xây dựng bộ sách này. Chƣơng 2: Phƣơng thức tiết lƣợc trong Tiểu học Tứ thư tiết lược 小 學四書節略 nhằm đề cập đến sự thể hiện của hai phƣơng thức tiết lƣợc trên đây đã đƣợc vận dụng áp cho từng bộ sách hợp thành Tứ Thƣ ( Đại học, Trung Dung, Luận ngữ , Mạnh Tử) thông qua nghiên cứu trƣờng hợp cótính đại diện trên cơ sở bản dịch Tiểu học Tứ Thư tiết lược 小學四書節略 màtác giả luận văn đã thực hiện. 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CẤP TIỂU HỌC VÀ “TIỂU HỌC TỨ THƯ TIẾT LƯỢC” Chƣơng này nhằm giới thiệu Tiểu học nhƣ là một cấp học của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919 trên một số phƣơng diện, sau đó giới thiệu Tiểu học Tứ Thư tiết lược về phƣơng diện văn bản học, kết cấu cũng nhƣ một số khái niệm liên quan đến tiết lƣợc.

Cấp Tiểu học trong chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919 Ngày 25-8-1883, thực dân Pháp buộc nhàNguyễn phải ký hiệp ƣớc Hác măng, thừa nhận sự bảo hộ của Pháp. Mọi công việc chí nh trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm. Ngày 6-6-1884, năm Giáp Thân, chúng điều chỉnh hiệp ƣớc Hác măng thành điều ƣớc Pa tơ nốt (Patennotre). Điều ƣớc Pa tơ nốt này đã đặt cơ sở lâu dài vàchủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chia Việt Nam thành ba miền với ba chế độ khác nhau.

Với việc ký điều ƣớc này, nhànƣớc phong kiến Việt Nam với tƣ cách là một nhà nƣớc độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ. Chính phủ Pháp trong việc cai trị Việt Nam sau hoà ƣớc kí năm Giáp Thân, 1884 đã chuyển từ chế độ dùng tƣớng lãnh quân sự sang chế độ dùng văn thần. Ngày 8-4-1886, Paul Bert - Tổng Trúsứ Bắc Kì- Trung Kì đến Hà Nội cùng hai Trú sứ ở HàNội vàHuế. Paul Bert đã thực hiện một số biện pháp và chính sách liên quan đến việc biến đổi xãhội Việt Nam.

Riêng về giáo dục, Tổng Trúsứ Paul Bert đã ký nghị định thành lập Viện Hàn Lâm Bắc Kì(tháng 7-1886), nhằm lôi kéo sĩ phu Bắc Kìvào hội để truyền báhọc thuật Pháp; thành lập trƣờng hoàng gia để dạy tiếng Pháp cho con em các gia đình 6 tôn thất vàquan lại ở Huế (11-1886); thành lập hệ thống trƣờng Pháp Việt (trƣờng thông ngôn, 9 trƣờng tiểu học cho nam sinh, 4 trƣờng tiểu học cho nữ sinh, 2 trƣờng dạy nghề, khuyến khích cho việc ra đời của 117 trƣờng tƣ. Một số tỉnh ở Bắc Kì và Trung Kì cũng khởi động việc mở trƣờng Pháp - Việt. Khoa cử sau 1884 vẫn còn đƣợc giữ lại vàhầu nhƣ không có gì thay đổi về văn bài, đề thi, cách thức thi. Thi Hƣơng thi Hội ba năm một kỳ vẫn đƣợc tổ chức nhƣ xƣa.

Những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu vẫn thi Hƣơng. Những năm Sửu, Mùi, Thìn, Tuất vẫn thi Hội. Thi Hƣơng thi Hội đều diễn ra theo 4 kỳ. Kỳ thứ nhất kinh nghĩa, thi phú, văn sách và kỳ thi phúc hạch.

Khoa cử làcái mồi nhử màthực dân Pháp đã sử dụng để lôi kéo tầng lớp biết chữ đi theo chúng, phục vụ cho các mƣu đồ thực dân của chúng. Vào những năm đầu của thế kỉ XX, khi chính quyền thực dân ru ngủ dụ dỗ những ngƣời thức tự bằng cái nọc độc khoa cử thìnhững nhà nho yêu nƣớc mànhiều ngƣời trong số họ đã từng qua cử nghiệp đỗ đạt cao lại đƣợc đón một luồng giómới của thời đại thổi tới từ Đông Á nhƣ: gƣơng Nhật Bản duy tân, gƣơng Trung Hoa tự cƣờng cũng nhƣ gƣơng Âu Mĩ qua tân thƣ, tân báo, tân văn, qua các trƣớc tác của Khang Hữu Vi, Lƣơng Khải Siêu, Nghiêm Phục. Họ nhận thấy nguyên nhân của mất nƣớc làsự lạc hậu, làdo cái học cử nghiệp đã làm lầm lỡ bao thế hệ. Họ chống hủ nho, kêu gọi canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn hƣng dân khí, hậu dân tài.

Đại diện cho lớp các nhà nho mới đó là: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyên Thƣợng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. với các phong trào: Đông Du (1905- 1909); Duy tân;….; bồng bột, sôi nổi, lôi cuốn lan tràn khắp nƣớc. Thực dân phong kiến đã đàn áp họ. Nhà tù đế quốc phong kiến đầy những tú tài, cử nhân, tiến sĩ duy tân - những ngƣời đã nhận ra “bia mà chi, bảng mà chi”.

Chính thực dân Pháp cũng thấy rằng chúng không thể duy trìmãi cái mồi “cử nghiệp” cũ để dụ dỗ thanh niên đƣợc. Công cuộc khai thác thuộc địa của chủ 7 nghĩa tƣ bản Pháp đòi hỏi những con ngƣời khác, không cần những ngƣời chỉ biết khoa cử từ chƣơng. Để ra làm quan, những ngƣời đỗ cử nhân, tú tài của khoa cử truyền thống phải vào học ở trƣờng Hậu Bổ. Ngày 20-6-1903, Thống sứ Bắc Kìra quyết định lập Trƣờng Hậu Bổ ở Hà Nội (École dapprentis mandarins) thể theo chỉ thị ngày 9-2-1897 của Tổng thƣ kí Toàn quyền Đông Dƣơng.

Trƣờng đặt dƣới sự chỉ đạo, giám sát và kiểm soát của Chánh phòng Nhìphủ Thống sứ Bắc Kỳ. Mục đích của Trƣờng: đào tạo tri phủ, tri huyện, huấn đạo, giáo thụ. Điều kiện nhập học: cử nhân, tú tài (cựu học), hoặc ít nhất cũng phải là ấm sinh (tức con quan lại cao cấp vàcócông với thực dân Pháp). Thời gian học: 3 năm.

Ra trƣờng sẽ đƣợc phong: tòng bát phẩm (tối thiểu), tòng thất phẩm (tối đa). Hệ thống trƣờng Hậu Bổ ở Huế lại đƣợc đặt ra muộn hơn. Ngày 5-5-1911: Vua Duy Tân ra dụ thành lập Trƣờng Hậu Bổ ở Huế, nơi bổ túc những “kiến thức cai trị hiện đại” của thực dân Pháp cho các tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài (cựu học) trong thời gian 3 năm, trƣớc khi đƣợc chính thức bổ nhiệm ra làm quan ngạch Học chính vàHành chính trong Chính phủ Nam triều ở Trung Kỳ. Ngày 18-4-1912: Toàn quyền Đông Dƣơng ra nghị định đổi gọi Trƣờng Hậu Bổ Hà Nội thành Trƣờng Sĩ Hoạn (École des Mandarins) (danh từ thƣờng gọi lúc bấy giờ).

Ngày 15-10-1917: Toàn quyền Đông Dƣơng ra nghị định lập Trƣờng Pháp Chính Đông Dƣơng (École de Droit et d'Administration), thay thế cho hai trƣờng Sĩ Hoạn HàNội vàHậu Bổ Huế. Để phục vụ cho các yêu cầu của công cuộc khai thác thuộc địa đang diễn ra cũng nhƣ để đối phó với tình hì nh, chính quyền thực dân phong kiến 8 đã tiến hành cải lƣơng giáo dục khoa cử. Tiến trình cải lƣơng giáo dục khoa cử đƣợc thực hiện qua một số mốc thời gian nhƣ sau: Tháng 2 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18), ban hành nghị định thiết lập Nghị học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi ở Bắc Kỳ. Ngày 31- 05- 1906, phụng thƣợng dụ cải định Trung Kỳ Học pháp.

Ngày 14 tháng 9 năm 1906 toàn quyền phụng dụ thi hành. Ngày 16 tháng 11 năm 1906, thống sứ Bắc Kìtuân phụng các khoản của nghị định thƣợng dụ. Ngày 06 tháng 7 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18) Viện Cơ Mật tâu về cải lƣơng giáo dục vàquy thức phép thi màNghị học Hội đồng thƣơng nghĩ và đã đƣợc phêchuẩn. Công cuộc cải lƣơng giáo dục khoa cử còn cócác cách gọi khác nhƣ là Chƣơng trình hoàn thiện giáo dục bản xứ; Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán.

Nó đã đƣợc thực hiện trên thực tế từ năm 1906 với các qui định có tính chính sách trên đây. Tiến trình này đƣợc kết thúc bằng Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng, Khoa Kỉ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ tƣ, tức năm 1919. Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong một quãng thời gian hơn một chục năm (từ 1906 đến 1919) với ba cấp học: Ấu học; Tiểu học; Trung học. Ấu học do các xãthôn tự trùthiết lập để dạy những trẻ em nam vànữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi.

Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trƣờng tƣ cũng cho phép. Các sĩ tử trƣờng tƣ cũng đều đƣợc tham dự sát hạch ứng thí cũng nhƣ sĩ tử trƣờng công. Các xã thôn đƣợc tự lựa chọn giáo sƣ nhƣng cần phải có chính quyền công nhận. 9 Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trƣờng Ấu học ở hƣơng thôn.

Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trƣờng Ấu học, theo quy thức của trƣờng Ấu học. Kinh phícủa các trƣờng ấy do các tỉnh chi cấp. Giáo quy của trƣờng Ấu học cóhai loại: Một làgiáo quy chữ Hán, hai làgiáo quy chữ Nam. Giáo quy chữ Hán nhằm dạy những chữ Hán thƣờng dùng vànhững chữ Hán thiết dụng về các lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý.

Giáo quy chữ Nam thìdạy chữ Quốc ngữ và các bài đọc chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý vàvệ sinh. Tốt nghiệp Ấu học thì đƣợc cấp văn bằng Tuyển Sinh. Còn nhƣ phép đào tạo các giáo sƣ cho hệ Ấu học thìở tỉnh lỵ của các tỉnh cóthiết lập một trƣờng quốc ngữ để dạy cho các hƣơng sự không biết chữ quốc ngữ. Tiểu học đƣợc mở ở cấp phủ, huyện, thƣờng đƣợc gọi là trƣờng của quan huấn đạo, giáo thụ.

Giáo quy của trƣờng có2 loại. Một làgiáo quy chữ Hán. Hai làgiáo quy chữ Nam âm. Dạy thêm cả chữ Pháp.

Học xong chƣơng trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học. Ai trúng tuyển sẽ đƣợc nhận bằng Khóa Sinh. Trung học thiết lập ở tỉnh lỵ, tức trƣờng của quan đốc học. Bậc Trung học thu nhận những ngƣời dƣới 30 tuổi.

Giáo quy của trƣờng có2 loại. Một làgiáo quy chữ Hán. Hai làgiáo quy chữ Nam vàchữ Pháp. Giáo quy chữ Hán thìdạy theo các văn bản thƣ tịch chữ Hán tƣơng đối cao vàthể thức các hạng công văn.

Giáo quy chữ Nam thì dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lývàcách trítân thời, toán pháp vàtập làm văn chƣơng chữ quốc ngữ. Chữ Pháp thìdạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng. 10 Sau khi hoàn thành chƣơng trình học, do tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp lấy văn bằng ThíSinh. Cóbằng thísinh mới đƣợc đi thi Hƣơng, thi Hội, thi Đình.

Các danh hiệu của khoa cử truyền thống nhƣ Cử nhân, Tú tài, Tiến sĩ vẫn đƣợc dùng trong khoa cử cải lƣơng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm trong cải lương và giáo dục khoa cử" của tác giả Phạm Bảo Nhung, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Phạm Văn Khoái, tập trung vào vai trò của ngôn ngữ Hán Nôm trong chương trình giáo dục và cải lương tại Việt Nam giai đoạn 1906 - 1919. Bài luận văn không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ Hán Nôm trong bối cảnh lịch sử, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong việc hình thành tri thức và văn hóa Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của văn hóa và lịch sử Việt Nam, bạn có thể tìm hiểu thêm qua bài viết Chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam từ 2009 đến 2020, nơi phân tích các chính sách văn hóa trong bối cảnh quốc tế hiện đại. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về di sản văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1918 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về di sản văn hóa trong giáo dục lịch sử. Cuối cùng, bài viết Luận Văn Hồ Quý Ly: Khám Phá Tiểu Thuyết Lịch Sử sẽ giúp bạn khám phá mối liên hệ giữa lịch sử và văn học, mở rộng thêm hiểu biết về cách mà văn hóa và lịch sử tương tác với nhau. Những bài viết này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu thêm kiến thức về văn hóa và lịch sử Việt Nam.