phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo vàPhụ lục phiên âm dịch nghĩa Đại học vàLuận ngữ đƣợc trích từ Tiểu học Tứ Thư tiết lược 小學四書節略 ra, luận văn đƣợc chia ra làm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cấp Tiểu học và Tiểu học Tứ thư tiết lược 小學四書節略 nhằm giới thiệu Tiểu học nhƣ là một cấp học của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919. Sau đó giới thiệu Tiểu học Tứ thư tiết lược về văn bản học vàkết cấu cũng nhƣ các nguyên tắc tiết lƣợc đã đƣợc vận dụng để xây dựng bộ sách này. Chƣơng 2: Phƣơng thức tiết lƣợc trong Tiểu học Tứ thư tiết lược 小 學四書節略 nhằm đề cập đến sự thể hiện của hai phƣơng thức tiết lƣợc trên đây đã đƣợc vận dụng áp cho từng bộ sách hợp thành Tứ Thƣ ( Đại học, Trung Dung, Luận ngữ , Mạnh Tử) thông qua nghiên cứu trƣờng hợp cótính đại diện trên cơ sở bản dịch Tiểu học Tứ Thư tiết lược 小學四書節略 màtác giả luận văn đã thực hiện. 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CẤP TIỂU HỌC VÀ “TIỂU HỌC TỨ THƯ TIẾT LƯỢC” Chƣơng này nhằm giới thiệu Tiểu học nhƣ là một cấp học của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919 trên một số phƣơng diện, sau đó giới thiệu Tiểu học Tứ Thư tiết lược về phƣơng diện văn bản học, kết cấu cũng nhƣ một số khái niệm liên quan đến tiết lƣợc.
Cấp Tiểu học trong chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906 – 1919 Ngày 25-8-1883, thực dân Pháp buộc nhàNguyễn phải ký hiệp ƣớc Hác măng, thừa nhận sự bảo hộ của Pháp. Mọi công việc chí nh trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm. Ngày 6-6-1884, năm Giáp Thân, chúng điều chỉnh hiệp ƣớc Hác măng thành điều ƣớc Pa tơ nốt (Patennotre). Điều ƣớc Pa tơ nốt này đã đặt cơ sở lâu dài vàchủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chia Việt Nam thành ba miền với ba chế độ khác nhau.
Với việc ký điều ƣớc này, nhànƣớc phong kiến Việt Nam với tƣ cách là một nhà nƣớc độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ. Chính phủ Pháp trong việc cai trị Việt Nam sau hoà ƣớc kí năm Giáp Thân, 1884 đã chuyển từ chế độ dùng tƣớng lãnh quân sự sang chế độ dùng văn thần. Ngày 8-4-1886, Paul Bert - Tổng Trúsứ Bắc Kì- Trung Kì đến Hà Nội cùng hai Trú sứ ở HàNội vàHuế. Paul Bert đã thực hiện một số biện pháp và chính sách liên quan đến việc biến đổi xãhội Việt Nam.
Riêng về giáo dục, Tổng Trúsứ Paul Bert đã ký nghị định thành lập Viện Hàn Lâm Bắc Kì(tháng 7-1886), nhằm lôi kéo sĩ phu Bắc Kìvào hội để truyền báhọc thuật Pháp; thành lập trƣờng hoàng gia để dạy tiếng Pháp cho con em các gia đình 6 tôn thất vàquan lại ở Huế (11-1886); thành lập hệ thống trƣờng Pháp Việt (trƣờng thông ngôn, 9 trƣờng tiểu học cho nam sinh, 4 trƣờng tiểu học cho nữ sinh, 2 trƣờng dạy nghề, khuyến khích cho việc ra đời của 117 trƣờng tƣ. Một số tỉnh ở Bắc Kì và Trung Kì cũng khởi động việc mở trƣờng Pháp - Việt. Khoa cử sau 1884 vẫn còn đƣợc giữ lại vàhầu nhƣ không có gì thay đổi về văn bài, đề thi, cách thức thi. Thi Hƣơng thi Hội ba năm một kỳ vẫn đƣợc tổ chức nhƣ xƣa.
Những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu vẫn thi Hƣơng. Những năm Sửu, Mùi, Thìn, Tuất vẫn thi Hội. Thi Hƣơng thi Hội đều diễn ra theo 4 kỳ. Kỳ thứ nhất kinh nghĩa, thi phú, văn sách và kỳ thi phúc hạch.
Khoa cử làcái mồi nhử màthực dân Pháp đã sử dụng để lôi kéo tầng lớp biết chữ đi theo chúng, phục vụ cho các mƣu đồ thực dân của chúng. Vào những năm đầu của thế kỉ XX, khi chính quyền thực dân ru ngủ dụ dỗ những ngƣời thức tự bằng cái nọc độc khoa cử thìnhững nhà nho yêu nƣớc mànhiều ngƣời trong số họ đã từng qua cử nghiệp đỗ đạt cao lại đƣợc đón một luồng giómới của thời đại thổi tới từ Đông Á nhƣ: gƣơng Nhật Bản duy tân, gƣơng Trung Hoa tự cƣờng cũng nhƣ gƣơng Âu Mĩ qua tân thƣ, tân báo, tân văn, qua các trƣớc tác của Khang Hữu Vi, Lƣơng Khải Siêu, Nghiêm Phục. Họ nhận thấy nguyên nhân của mất nƣớc làsự lạc hậu, làdo cái học cử nghiệp đã làm lầm lỡ bao thế hệ. Họ chống hủ nho, kêu gọi canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn hƣng dân khí, hậu dân tài.
Đại diện cho lớp các nhà nho mới đó là: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyên Thƣợng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. với các phong trào: Đông Du (1905- 1909); Duy tân;….; bồng bột, sôi nổi, lôi cuốn lan tràn khắp nƣớc. Thực dân phong kiến đã đàn áp họ. Nhà tù đế quốc phong kiến đầy những tú tài, cử nhân, tiến sĩ duy tân - những ngƣời đã nhận ra “bia mà chi, bảng mà chi”.
Chính thực dân Pháp cũng thấy rằng chúng không thể duy trìmãi cái mồi “cử nghiệp” cũ để dụ dỗ thanh niên đƣợc. Công cuộc khai thác thuộc địa của chủ 7 nghĩa tƣ bản Pháp đòi hỏi những con ngƣời khác, không cần những ngƣời chỉ biết khoa cử từ chƣơng. Để ra làm quan, những ngƣời đỗ cử nhân, tú tài của khoa cử truyền thống phải vào học ở trƣờng Hậu Bổ. Ngày 20-6-1903, Thống sứ Bắc Kìra quyết định lập Trƣờng Hậu Bổ ở Hà Nội (École dapprentis mandarins) thể theo chỉ thị ngày 9-2-1897 của Tổng thƣ kí Toàn quyền Đông Dƣơng.
Trƣờng đặt dƣới sự chỉ đạo, giám sát và kiểm soát của Chánh phòng Nhìphủ Thống sứ Bắc Kỳ. Mục đích của Trƣờng: đào tạo tri phủ, tri huyện, huấn đạo, giáo thụ. Điều kiện nhập học: cử nhân, tú tài (cựu học), hoặc ít nhất cũng phải là ấm sinh (tức con quan lại cao cấp vàcócông với thực dân Pháp). Thời gian học: 3 năm.
Ra trƣờng sẽ đƣợc phong: tòng bát phẩm (tối thiểu), tòng thất phẩm (tối đa). Hệ thống trƣờng Hậu Bổ ở Huế lại đƣợc đặt ra muộn hơn. Ngày 5-5-1911: Vua Duy Tân ra dụ thành lập Trƣờng Hậu Bổ ở Huế, nơi bổ túc những “kiến thức cai trị hiện đại” của thực dân Pháp cho các tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài (cựu học) trong thời gian 3 năm, trƣớc khi đƣợc chính thức bổ nhiệm ra làm quan ngạch Học chính vàHành chính trong Chính phủ Nam triều ở Trung Kỳ. Ngày 18-4-1912: Toàn quyền Đông Dƣơng ra nghị định đổi gọi Trƣờng Hậu Bổ Hà Nội thành Trƣờng Sĩ Hoạn (École des Mandarins) (danh từ thƣờng gọi lúc bấy giờ).
Ngày 15-10-1917: Toàn quyền Đông Dƣơng ra nghị định lập Trƣờng Pháp Chính Đông Dƣơng (École de Droit et d'Administration), thay thế cho hai trƣờng Sĩ Hoạn HàNội vàHậu Bổ Huế. Để phục vụ cho các yêu cầu của công cuộc khai thác thuộc địa đang diễn ra cũng nhƣ để đối phó với tình hì nh, chính quyền thực dân phong kiến 8 đã tiến hành cải lƣơng giáo dục khoa cử. Tiến trình cải lƣơng giáo dục khoa cử đƣợc thực hiện qua một số mốc thời gian nhƣ sau: Tháng 2 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18), ban hành nghị định thiết lập Nghị học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi ở Bắc Kỳ. Ngày 31- 05- 1906, phụng thƣợng dụ cải định Trung Kỳ Học pháp.
Ngày 14 tháng 9 năm 1906 toàn quyền phụng dụ thi hành. Ngày 16 tháng 11 năm 1906, thống sứ Bắc Kìtuân phụng các khoản của nghị định thƣợng dụ. Ngày 06 tháng 7 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18) Viện Cơ Mật tâu về cải lƣơng giáo dục vàquy thức phép thi màNghị học Hội đồng thƣơng nghĩ và đã đƣợc phêchuẩn. Công cuộc cải lƣơng giáo dục khoa cử còn cócác cách gọi khác nhƣ là Chƣơng trình hoàn thiện giáo dục bản xứ; Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán.
Nó đã đƣợc thực hiện trên thực tế từ năm 1906 với các qui định có tính chính sách trên đây. Tiến trình này đƣợc kết thúc bằng Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng, Khoa Kỉ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ tƣ, tức năm 1919. Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong một quãng thời gian hơn một chục năm (từ 1906 đến 1919) với ba cấp học: Ấu học; Tiểu học; Trung học. Ấu học do các xãthôn tự trùthiết lập để dạy những trẻ em nam vànữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi.
Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trƣờng tƣ cũng cho phép. Các sĩ tử trƣờng tƣ cũng đều đƣợc tham dự sát hạch ứng thí cũng nhƣ sĩ tử trƣờng công. Các xã thôn đƣợc tự lựa chọn giáo sƣ nhƣng cần phải có chính quyền công nhận. 9 Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trƣờng Ấu học ở hƣơng thôn.
Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trƣờng Ấu học, theo quy thức của trƣờng Ấu học. Kinh phícủa các trƣờng ấy do các tỉnh chi cấp. Giáo quy của trƣờng Ấu học cóhai loại: Một làgiáo quy chữ Hán, hai làgiáo quy chữ Nam. Giáo quy chữ Hán nhằm dạy những chữ Hán thƣờng dùng vànhững chữ Hán thiết dụng về các lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý.
Giáo quy chữ Nam thìdạy chữ Quốc ngữ và các bài đọc chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý vàvệ sinh. Tốt nghiệp Ấu học thì đƣợc cấp văn bằng Tuyển Sinh. Còn nhƣ phép đào tạo các giáo sƣ cho hệ Ấu học thìở tỉnh lỵ của các tỉnh cóthiết lập một trƣờng quốc ngữ để dạy cho các hƣơng sự không biết chữ quốc ngữ. Tiểu học đƣợc mở ở cấp phủ, huyện, thƣờng đƣợc gọi là trƣờng của quan huấn đạo, giáo thụ.
Giáo quy của trƣờng có2 loại. Một làgiáo quy chữ Hán. Hai làgiáo quy chữ Nam âm. Dạy thêm cả chữ Pháp.
Học xong chƣơng trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học. Ai trúng tuyển sẽ đƣợc nhận bằng Khóa Sinh. Trung học thiết lập ở tỉnh lỵ, tức trƣờng của quan đốc học. Bậc Trung học thu nhận những ngƣời dƣới 30 tuổi.
Giáo quy của trƣờng có2 loại. Một làgiáo quy chữ Hán. Hai làgiáo quy chữ Nam vàchữ Pháp. Giáo quy chữ Hán thìdạy theo các văn bản thƣ tịch chữ Hán tƣơng đối cao vàthể thức các hạng công văn.
Giáo quy chữ Nam thì dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lývàcách trítân thời, toán pháp vàtập làm văn chƣơng chữ quốc ngữ. Chữ Pháp thìdạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng. 10 Sau khi hoàn thành chƣơng trình học, do tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp lấy văn bằng ThíSinh. Cóbằng thísinh mới đƣợc đi thi Hƣơng, thi Hội, thi Đình.
Các danh hiệu của khoa cử truyền thống nhƣ Cử nhân, Tú tài, Tiến sĩ vẫn đƣợc dùng trong khoa cử cải lƣơng.