phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLST Chƣơng 2:Tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST VQG Bidoup – Núi Bà Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển DLST VQG Bidoup – Núi Bà 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Cơ sở lý luận du lịch sinh thái 1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái Khái niệm về du lịch Du lịch là một hiện tƣợng phức tạp. Du lịch liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi của con ngƣời cũng nhƣ các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó. Trong quá trình phát triển, nội dung của khái niệm du lịch không ngừng mở rộng. Khó có thể nói định nghĩa nào là chính xác nhất, đầy đủ nhất.
Việc chúng ta chọn định nghĩa nào sẽ tuỳ theo quan điểm, góc độ tiếp cận và mục đích sử dụng. Khái niệm về du lịch sinh thái “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Định nghĩa về DLST ở Việt Nam) Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng “quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một mặt góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; mặt khác, nó cũng gây ra những “vấn đề” cho môi trƣờng sinh thái: tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học đã và đang bị đe dọa đến mức báo động, các dạng tài nguyên môi trƣờng đất, nƣớc, không khí cũng đang trên đà suy thoái và ô nhiễm”. Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhƣng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và đƣợc nuôi dƣỡng, quản lý theo hƣớng bền vững về mặt sinh thái.
Du khách sẽ đƣợc hƣớng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trƣờng để nâng cao hiểu biết, cảm nhận đƣợc 10 z giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái Những đặc trƣng trƣng cơ bản của khu du lịch sinh thái: Mỗi một điểm du lịch đều có 3 đặc trƣng cơ bản nhất đó là: Tính giao thoa, chu trình sống và khả năng chịu tải (sức chứa). Tuy nhiên, đối với một khu vực phát triển DLST thì yếu tố bền vững là chủ đạo, vì vậy, khái niệm chu trình sống đƣợc đặt vào vị trí thứ yếu trong lãnh thổ DLST. Do đó, 2 đặc tính quan trọng trong lãnh thổ DLST mà ta cần chú ý là: tính giao thoa và khả năng chịu tải (sức chứa).
• Tính giao thoa hoá hợp nhƣng độc lập tƣơng đối • Khả năng chịu tải (sức chứa) của điểm du lịch 1.3 Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 1.1 Nguyên tắc hòa nhập Sự xuống cấp của môi trƣờng hay sự thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phƣơng đối với một hoạt động nào đó sẽ trực tiếp làm mất đi sự cân bằng sinh thái vốn có của khu vực và hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của du lịch sinh thái. Bảo vệ và phát huy văn hóa là nguyên tắc đặc biệt quan trọng mà hoạt DLST phải tuân thủ, bảo vệ các giá trị nhân văn là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị của môi trƣờng, xã hội đối với một hệ sinh thái ở một nơi cụ thể. Nói cách khác, tính hấp dẫn và sự tồn tại của hoạt động du lịch sinh thái gắn liền với việc bảo vệ môi trƣờng và duy trì các hệ sinh thái điển hình, vì vậy một phần thu nhập của DLST cần phải đƣợc đầu tƣ cho việc hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh và những giải pháp hiệu quả bảo vệ môi trƣờng và duy trì hệ sinh thái. Hoà nhập tự nguyện là một nguyên tắc hoạt động của DLST, khách du lịch sinh 11 z thái phải hòa nhập một cách tự nguyện vào môi trƣờng tự nhiên, vào môi trƣờng văn hóa và xã hội theo đúng nghĩa của nó.
Ví dụ nhƣ phải chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là cải tạo biến đổi môi trƣờng đƣợc thuận tiện theo ý muốn của cá nhân. Bản thân ngành du lịch với những hoạt động, thiết kế cũng nhằm hoà nhập với môi trƣờng nhằm giúp du khách nhận thức hoà nhập với thiên nhiên và cộng đồng là những kinh nghiệm để tăng cƣờng sự hiểu biết, tăng cƣờng sự thông cảm, có thái độ tích cực và trách nhiệm hơn là đi tìm những gì mới lạ hay thỏa mãn những ý muốn, sở thích của cá nhân mình. Thái độ hòa nhập theo không khí nhiệt tình thái quá cũng có thể gây ra những tác động xấu mặc dù hành động này xuất phát từ mục đích tốt nhƣ: cho động vật hoang dã thức ăn sẽ làm chúng mất đi khả năng tự tìm kiếm thức ăn hoặc trở nên quá thân thiện với con ngƣời, việc cho ngƣời dân địa phƣơng tiền có thể làm thƣơng mại hóa những hoạt động truyền thống của họ… Do đó dù khách du lịch sinh thái đã có sự tự nguyện hòa nhập nhƣng du khách vẫn cần sự giúp đỡ. Cần đƣợc giáo dục để có sự nhận thức đúng về vai trò bảo tồn của mình nhằm thể hiện những hành vi tích cực đóng góp cho sự bảo tồn ngành du lịch sinh thái.2 Nguyên tắc kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái Mọi hoạt động của DLST đều hƣớng tới mục tiêu là bảo vệ tính bền vững nên ngoài đòi hỏi phải có nhận thức cao, kinh nghiệm tổ chức và quản lý chặt chẽ thì nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phƣơng.
Về mặt đạo đức và công bằng xã hội: Cộng đồng địa phƣơng chính là chủ nhân thật sự của các nguồn tài nguyên du lịch (cả tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) mà ngành du lịch dựa vào để thu hút du khách cho nên họ có quyền tham gia và hƣởng lợi thu đƣợc từ hoạt động mà ngành du lịch đem lại. Ở những khu vực đƣợc quy hoạch thành khu DLST, môi trƣờng sống, phƣơng thức tổ chức sản xuất truyền thống của cộng đồng địa phƣơng thƣờng ít 12 z nhiều bị ngăn cấm hoặc hạn chế nhƣ: Không còn đƣợc tự do chặt cây, phá rừng làm rẫy, việc khai thác và đánh bắt hải sản bị hạn chế. Do đó thu nhập của cuộc sống và vấn đề tồn tại của cộng đồng địa phƣơng bị đe doạ vậy ngành du lịch sẽ khai thác đƣợc gì trong khu vực đang bị tranh chấp? Du lịch sinh thái còn quan tâm đến sự cân bằng đời sống xã hội của cộng đồng địa phƣơng. Đây cũng chính là sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch khác.
Đối với DLST, lợi ích từ du lịch cần đƣợc phân bố rộng rãi đến các thành viên trong cộng đồng. Cá nhân những ngƣời tham gia trực tiếp và những ngƣời tham gia không trực tiếp. Phần lớn các mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng ít nhiều có liên quan đến việc phân chia lợi ích thu đƣợc từ du lịch. Nếu không đƣợc hƣởng lợi ích thì chính những thành viên trong cộng đồng sẽ là những ngƣời phá hoại tích cực đến các nguồn tài nguyên du lịch của cộng đồng.
Ngoài ra việc phân chia lợi ích cộng đồng trên sẽ góp phần làm giảm tính cạnh tranh không lành mạnh giữa những ngƣời tham gia làm du lịch. Đây là một trong những mối đe dọa tiềm ẩn đối với việc phát triển bền vững, Các chƣơng trình phúc lợi và xã hội của cộng đồng cần phải đem đến lợi ích cho tất cả các thành viên trong cộng đồng. Tóm lại nguyên tắc có sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hƣớng tới của du lịch sinh thái. Nguyên tắc này tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác.3 Nguyên tắc qui mô Dƣới góc nhìn của sinh thái học trong một hệ sinh thái, khi một số lƣợng, một loài thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến những tác động làm thay đổi sự cân bằng của hệ sinh thái.
Đối với hệ sinh thái nhân văn số lƣợng vài trăm hay vài ngàn du khách xuất hiện trong một ngày có thể tác động ít đến môi trƣờng. Nhƣng trong hệ sinh thái thiên nhiên, nơi còn ngƣời là một chủng loài có số lƣợng nhỏ (thậm chí không 13 z có trong khu thiên nhiên hoang sơ nguyên thủy) thì sự xuất hiện của vài chục ngƣời với hành vi của họ có thể là tác động rất lớn thậm chí có thể dẫn đến sự hủy hoại thế cân bằng của hệ sinh thái. Nguyên tắc qui mô không chỉ áp dụng cho các hoạt động du lịch thuần tuý, chúng cũng cần phải đƣợc áp dụng cho cộng đồng địa phƣơng để không ảnh hƣởng đến hệ thực vật, không ảnh hƣởng đến hệ động vật hoang dã và cảnh quan, diện tích trồng trọt, vật nuôi… Dƣới góc độ xã hội nguyên tắc qui mô của cộng đồng địa phƣơng còn là kiểm soát sự tăng dân số (trên cả hai phƣơng diện sinh học và cơ học) nhằm thiết lập sự phát triển cân đối về kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phƣơng. Với đặc trƣng khác biệt về nguồn gốc của sản phẩm DLST và tính chất bền vững của nó, trong những năm qua ở lĩnh vực hoạt động DLST trên phạm vi toàn thế giới, ngƣời ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị đóng góp vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái.
- Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trƣờng, tăng cƣờng và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trƣờng tự nhiên.