Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quan niệm Chính sách công Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách công để mưu cầu lợi ích cho xã hội. Hoạt động của Nhà nước không chỉ tác động đến một khu vực, một bộ phận dân cư nhất định mà tác động rộng khắp đến mọi đối tượng trên phạm vi quốc gia.
Tác động của Nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế hay kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất. Đồng thời trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng – nhiệm vụ của Nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp, vì thế mà quan niệm về chính sách công cũng được tiếp cận từ các góc độ khác nhau. Khái niệm chính sách Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Từ khái niệm chung về chính sách chúng ta có thể đi đến khái niệm về chính sách công như sau : Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Khái niệm trên đây vừa bao hàm những đặc trưng của chính sách công do Nhà nước ban hành để tác động đến các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định. Vừa thể hiện được bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Định hướng đó được thể hiện qua thái độ đối xử với những vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh trong đời sống cộng đồng. Để đạt được mục tiêu phát triển, trước hết chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải hành động thật sự bằng chính sách.
Điều kiện tồn tại của một chính sách là tổng hòa những hành động tích cực theo định hướng chính trị của Nhà nước nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển. Điều kiện tồn tại đó được thể hiện bằng cách thức ứng xử của chủ thể quản lý là nhà nước. Khái niệm thực thi chính sách. Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tại khách quan với những chức năng nhất định.
Chức năng là tập hợp những hoạt động có mục đích gắn với sự tồn tại và phát triển của thực thể theo yêu cầu của đời sống xã hội, hay nói một cách vắn tắt: chức năng là lý do tồn tại của các dạng thức vật chất nhất định. Chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại. Song muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác. Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội.
Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách. Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực thi chính sách sau đây : Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng. Khái niệm du lịch Theo Luật Du Lịch năm 2017 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm kiếm khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm.
Chính sách du lịch Theo Tạp chí du lịch, chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của nhà nước để đẩy mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và giá cả của các yếu tố đầu vào ( đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng…); tác động tới sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác 8 Luan van động việc thay đổi tổ chức và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công nghệ du lịch… 1. Tầm quan trọng của phát triển du lịch Hoạt động du lịch có liên quan mật thiết tới nhiều lĩnh vực khác đặc biệt là kinh tế. Kinh tế tạo tiền đề cho du lịch phát sinh và phát triển. Kinh tế càng phát triển, người dân càng có điều kiện và khả năng thanh toán để thỏa mãn các nhu cầu du lịch của mình.
Đồng thời, xét về phương diện cung du lịch thì ngành du lịch sử dụng rất nhiều các sản phẩm của ngành kinh tế khác để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Tác động tích cực của hoạt động du lịch tới kinh tế: Du lịch hiện nay được xem là giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hoạt động du lịch quốc tế chủ động nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, là hoạt động “xuất khẩu tại chỗ” và “xuất khẩu vô hình” hiệu quả đối với nền kinh tế. Khách du lịch quốc tế mang theo tiền từ các quốc gia khác đến chi tiêu ở điểm đến du lịch.
Do đó, hoạt động này làm tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc gia kinh doanh du lịch quốc tế chủ động. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới, cứ một việc làm trong ngành du lịch sẽ tạp ra từ 1,3 đến 3,3 việc làm ở các ngành khác. Hiện nay, tỷ lệ lao động tham gia phục vụ du lịch trực tiếp và gián tiếp chiếm khoảng 10 % lực lượng lao động trên toàn thế giới. Đồng thời, các doanh nghiệp du lịch cũng ưu tiên tuyển dụng người lao động là dân cư địa phương để tiết kiệm chi phí, tận dụng kinh nghiệm và hiểu biết sẵn có của họ cũng như thắt chặt mối quan hệ với chính quyền địa phương.
Hoạt động du lịch kích thích và thu hút đầu tư cho địa phương, quốc gia. Để phát triển du lịch thì không chỉ cần có tài nguyên du lịch, mà rất nhiều các điều kiện khác cũng cần được chuẩn bị như hế thống cơ sở vật chất kỹ thuật (các cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống, trung tâm vui chơi, giải trí…), cơ sở hạ tầng hay các công trình công cộng (hệ thống đường bộ, nhà ga, bến cảng, sân bay, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện …) đòi hỏi một lượng vốn đầu tư không nhỏ. Do du lịch là lĩnh vực kinh doanh hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao nên thu hút các nhà đầu tư ngoài địa 9 Luan van phương và nước ngoài để hòan thiện các điều kiện này nhằm phát triển du lịch. Người dân địa phương cũng là những người hưởng lợi từ các công trình này… Hoạt động du lịch góp phần quảng bá kinh tế địa phương thông qua tiêu dùng của du khách.
Khách du lịch thường tìm đến với những sản phẩm đặc trưng của địa phương du lịch như các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm để sử dụng tại chỗ hoặc mua đem về làm quà lưu niệm, quà tặng người thân, bạn bè, đồng nghiệp sau chuyến đi. Du lịch có hiệu quả trực tiếp đối với một số ngành và lĩnh vực kinh doanh như giao thông vận chuyển, lưu trú và ăn uống thông qua doanh thu của các bộ phận này tăng đáng kể. Mặt khác, một số ngành khác có liên quan đến du lịch như công nghiệp, hàng tiêu dùng, nông nghiệp cũng có lợi ích từ du lịch do du lịch sử dụng sản phẩm của những ngành này trong quá trình kinh doanh của ngành. Du lịch phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một vùng, khu vực đặc biệt của quốc gia, giúp tạo ra môi trường thuận lợi cho các vùng có những khó khăn, đặc biệt trong việc thu hút sự quan tâm của công chúng trong và ngoài nước.
Du lịch cũng tăng cường các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Sự phát triển của du lịch quốc tế có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu trên các hướng: ký kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và các hãng du lịch, lữ hành; tham gia các tổ chức quốc tế và du lịch để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giao thông, vận chuyển hành khách trong du lịch; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cho vay vốn để xây dựng và phát triển du lịch; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cải tiến các mối quan hệ tiền tệ và thanh toán trong lĩnh vực du lịch quốc tế; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tuyên truyền quảng bá du lịch. Du lịch không những là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành”xuất khẩu vô hình” hàng hóa du lịch. Đó là các cảnh quan thiên nhiên, những giá trị của những di tích lịch sử, văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong tục, tập quán… mà giá trị và uy tín của nó ngày càng tăng lên qua mỗi lần đưa ra thị trường nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao.
Về mặt xã hội, phát triển du lịch sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân, góp phần là giảm đô thị hóa ở những quốc gia phát triển. Xét về khía 10 Luan van cạnh nào đó, du lịch cũng góp phần tích cực vào việc làm phong phú sự hiểu biết trí thức cho người dân bản địa thông qua những du khách ở các địa phương khác đến nhất là khách du lịch nước ngoài. Chủ thể và các bước thực hiện chính sách phát triển du lịch. Chủ thể thực hiện chính sách du lịch.