CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH THÀNH PHỒ PLEIKU 1.1 Khái quát về thành phố Pleiku 1. Vị trí địa lý Thành phố Pleiku là tỉnh lị của tỉnh Gia Lai và cũng là đô thị trung tâm của Bắc Tây Nguyên, với tổng diện tích hơn 261,99 km², dân số 222. Tọa độ địa lý được xác định từ 107º50’30’’ đến 108º06’10’’ kinh độ Đông và 13º50’10’’ đến 14º05’15’’ vĩ độ Bắc. Phía Đông giáp huyện Đak Đoa; phía Tây giáp huyện Ia Grai và huyện Chư Păh; phía Nam giáp huyện Chư Prông; phía Bắc giáp huyện Chư Păh và huyện Đak Đoa.
Thành phố nằm trên cao nguyên Pleiku, có vị trí địa lý quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng. Lịch sử hình thành và chuyển biến địa danh Địa danh “Pleiku” có nguồn gốc từ tên của 1 làng Jrai là “Aku”. Trong tiếng Jrai, “Aku” có nghĩa là “cái đuôi”. Vì nguyên âm “a” đứng trước một phụ âm là âm câm, nên khi ghi âm nó đã bị rớt mất.
Đến nay, mặc dù viết là “Pleiku” nhưng địa danh này vẫn được hiểu là có nguồn gốc từ “plơi aku = làng đuôi”. Trong dân gian, lưu truyền phổ biến hai truyền thuyết sau đây: Truyền thuyết thứ nhất do Rơmah Del sưu tầm và dịch, đại ý như sau: Ngày xưa, ở làng Brel có hai gia đình gả con cho nhau. Theo đúng tục lệ của người Jrai, người vợ phải lo mọi lễ vật đám cưới và người chồng phải ở rể suốt đời. Cưới được vài hôm, cô dâu mới làm lễ tạ ơn cha mẹ chồng, lễ vật gồm một con lợn to và một con trâu đực.
Tháng sau, chú rể cũng làm lễ tạ ơn cha mẹ vợ tại làng mình. Vì chú rể là con trai của một gia đình giàu có lại rất uy tín nên họ hàng và dân làng kéo đến chia vui rất đông. Rượu ghè nhiều không đếm xuể. Già làng phân công những người có kinh nghiệm giết bò, còn việc mổ heo thì giao cho đám thanh niên.
Chúng vừa đùa giỡn, vừa xẻ thịt nướng ăn và ăn luôn cả cái đuôi lợn. Khi mọi việc chuẩn bị xong xuôi, chủ nhà đem thịt lên đặt tại ghè rượu cúng và mời thầy cúng vào làm lễ. Nhìn quanh không thấy đuôi lợn đâu, thầy cúng rất tức giận, nhất định yêu cầu phải có đuôi lợn mới. Người nhà lật đật gọi đám thanh niên giết lợn khác, nhưng lần này 1 Niên giám Thống kê thành phố Pleiku, năm 2013.
6 z vì quá đói chúng lại ăn mất cái đuôi. Cứ như thế, lục đục mãi đến tối buổi lễ tạ ơn mới bắt đầu. Để trừng phạt đám thanh niên đã ăn vụng đuôi lợn, già làng đặt tên làng này là “plei Ku” nghĩa là “làng cái đuôi”, để mỗi khi gọi đến tên làng thì chúng phải xấu hổ vì hành động của mình. Từ làng gốc đó, sau này plei Ku còn tách ra nhiều làng nhỏ: plơi Ku Roh, plơi Ku Tong, plơi Ku Blang….
Truyền thuyết thứ hai lại kể có phần khác đi. Đã lâu lắm rồi, không còn nhớ thời gian nào, nhân ngày hội lớn người Jrai quần tụ quanh nhà Rông làm lễ đâm trâu để cúng Yang. Giữa lúc dân làng đang ăn uống, chuyện trò vui vẻ thì xảy ra cuộc xô xát giữa hai người con trai của tù trưởng. Họ tranh nhau cái đuôi trâu để cúng Yang mà theo phong tục của người Jrai - nếu ai chiếm được sẽ là một vinh dự lớn.
Cuối cùng, phe chiếm được đuôi trâu lưu lại vùng đất này và đặt tên làng là Aku (cái đuôi) với dụng ý đề cao chiến thắng của mình. Trong tài liệu thư tịch, trong Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 4/7/1905, “Plei – Kou” xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản, với nội dung: ‘Đem vùng miền núi phía Tây tỉnh Bình Định thành lập một tỉnh tự trị, lấy tên là Plei – Kou – Derr tỉnh lỵ đặt tại làng Jrai Plei – Kou”. Gần hai năm sau, Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 25/4/1907 đã xóa tỉnh Plei – Kou – Derr. Đất đai của tình này được chia thành hai phần, một phần nhập vào tỉnh Bình Định, một phần nhập vào tỉnh Phú Yên.
Theo Nghị định Toàn quyền ngày 24/5/1925, đại lí hành chính Pleiku thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập. Từ đây, “Pleiku” với ý nghĩa một địa danh cả về cách đọc, cách viết đã ra đời và tồn tại đến ngày nay. Ngày 3/12/1929, theo Nghị định Khâm sứ Trung Kỳ, thị xã Pleiku đã được thành lập. Gần 3 năm sau đó, ngày 24/5/1932 và ngày 4/3/1933, Nghị định Toàn quyền tiếp tục tách phần đất thuộc đại lý Pleiku cũ (trước thuộc tỉnh Kon Tum) để thành lập tỉnh Pleiku.
Ngày 27/7/1953, Nghị định số 495 – Cab/Ml của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đặt trung tâm các tỉnh thuộc Hoàng triều cương thổ phía Nam (Tây Nguyên hiện nay) thành thị trấn – trong đó có thị trấn Pleiku. Sau Hiệp định Genève 1954, chính quyền Sài Gòn vẫn lấy Pleiku làm tỉnh lỵ của tỉnh cùng tên. Ngày 26/1/1957, Nghị định số 27 – BNV/HC/NĐ của Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng hòa bãi bỏ Nghị định số 7 z 495 – Cab/Ml, các thị trấn được đổi thành xã. Theo văn bản này, thị trấn Pleiku trở thành xã Pleiku.
Dưới thời Ngô Đình Diệm, Pleiku vẫn gọi là thị xã nằm trong xã Hội Thương – Hội Phú. Từ năm 1962, chính quyền Sài Gòn mới quy hoạch mở rộng thị xã Pleiku. Như vậy: Từ năm 1932 – 1975, dưới thời thuộc Pháp cũng như chính quyền Sài Gòn, Pleiku là tên tỉnh, đồng thời có giai đoạn là tên thị trấn – thị xã nhưng trực thuộc xã (chứ không phải là cấp hành chính thị xã tương đương cấp quận, huyện hiện nay) và luôn là tỉnh lỵ của tỉnh Pleiku. Sau Giải phóng (3/1975), Pleiku là tên thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Gia Lai (trước và sau khi sáp nhập hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum) và tỉnh Gia Lai – Kon Tum (trong thời gian nhập tỉnh 1976 – 1991).
Ngày 24/6/1999 theo Nghị định số 29/NĐ của Chính phủ, thị xã Pleiku được nâng lên thành phố (đô thị loại III) thuộc tỉnh Gia Lai. Theo Quyết định số 249/QĐ – TTg, ngày 25/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Pleiku được công nhận là đô thị loại II. Về tổ chức hành chính, đến 31/12/2013, thành phố Pleiku bao gồm 23 đơn vị trực thuộc - các phường: Hoa Lư, Tây Sơn, Diên Hồng, Ia Kring, Yên Đỗ, Hội Thương, Yên Thế, Thắng Lợi, Trà Bá, Hội Phú, Phù Đổng, Thống Nhất, Đống Đa, Chi Lăng và các xã: Trà Đa, Chư Á, Biển Hồ, Tân Sơn, Gào, An Phú, Diên Phú, Chư Hdrông, Ia Kênh.3 Điều kiện tự nhiên Địa hình, địa mạo: Thành phố Pleiku nằm trọn vẹn trên cao nguyên Pleiku, ở phía Tây dải Trường Sơn. Cao nguyên có diện tích khoảng 4.550 km 2, độ cao trung bình từ 600m – 700m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình từ 3 0 - 150.
Địa hình có dạng vòm bất đối xứng, sống đường phân thuỷ tương đối bằng, kéo dài dọc theo quốc lộ 14, phân chia thành 02 sườn Đông và Tây. Sườn phía Tây hẹp, độ cao giảm nhanh từ đường phân thuỷ 500m - 600m, đến rìa phía Tây Nam 250m - 350m, nên độ chia cắt sâu trung bình 10m - 50m và độ chia cắt ngang trung bình 0,35km - 0,45km/km2 đến lớn, hình thành nhiều khe suối hợp thuỷ. Sườn Đông của cao nguyên phân bố trên diện rộng và chênh lệch nhau nhỏ, từ Tây (500m - 600m) sang Đông (400m - 500m), gần như là vùng Bazan liền khối, chia cắt bởi miệng núi lửa 2 Niên giám Thống kê thành phố Pleiku, năm 2013. 8 z địa hình âm, mức độ chia cắt ít, do vậy khả năng xây dựng các công trình thuỷ lợi cấp nước là khó khăn.
Các thành tạo địa mạo ở đây gồm hai kiểu hình thái cơ bản: bề mặt nằm ngang và hơi nghiêng xen kẽ các bề mặt dạng phun nổ. Các bề mặt này bị lôi kéo vào các hoạt động đào xẻ, phân cắt cùng với quá trình ngoại sinh hoạt động mạnh mẽ, dẫn đến rửa trôi, xâm thực xói mòn, phong hóa bạc màu và các quá trình trọng lực xảy ra ở các sườn dốc và vách đứng mà thường là ranh giới giữa các phân vi địa mạo.3 Đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên sự đa dạng và phong phú về cảnh quan du lịch – nét hấp dẫn rất riêng của tự nhiên nơi đây. Khí hậu: Pleiku có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, 01 năm 02 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (bảng 1. Đây là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến thời vụ du lịch.
Sự phân hoá sâu sắc có liên quan đến tác dụng chắn gió của dãy Trường Sơn. Mùa hạ trùng mùa mưa ẩm, quá trình hình thành mưa trong luồng gió mùa Tây Nam đã bão hoà hơi nước lại được tăng cường thêm nhờ tác dụng của dãy Trường Sơn chắn gió nên mưa rất lớn. Mùa đông trùng với mùa khô hạn, những đợt gió mùa tràn về đã vấp phải núi và đem lại nhiều mưa ở trên vùng thấp ven biển và sườn Đông Trường Sơn. Đặc biệt, đầu thời kỳ mùa đông là thời kỳ có những xoáy thấp và những cơn bão muộn thường hoạt động ở những vĩ độ thấp của biển Đông, sau khi vượt qua dãy Trường Sơn để lại một lượng ẩm đáng kể dưới dạng mưa bên Đông Trường Sơn nên các khối khí trở nên khô hơn.
Tình trạng khô hạn rất gay gắt, hàng năm trong suốt 2-3 tháng chỉ có mưa rất ít, thậm chí có năm không có mưa. Suốt 6 tháng mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa năm.1: Lượng mưa bình quân nhiều năm tại trạm quan trắc Pleiku (mm) (1976-2005) I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm 3,9 5,6 29 80 238 366 375 490 383 208 70 11 2.260 Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên 3 Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai (1999), Địa chí Gia Lai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 9 z Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất xảy ra vào tháng III (72%) và cao nhất vào tháng VIII (93%). Độ ẩm lớn nhất thường xảy ra sau vài ba giờ lúc mặt trời mọc và nhỏ nhất xảy ra vào lúc 13 giờ trong ngày.
Quan sát thực tế ở trạm đo cho thấy độ ẩm về ban đêm cao hơn so với ban ngày. Độ ẩm nhỏ nhất ngày quan sát được vào tháng III ở Pleiku chỉ có 8%. Độ ẩm quá thấp như vậy đã làm cho mùa khô trở nên gay gắt trong khu vực.