đặt vấn đề về DLST và sự tìm kiếm để đi đến sự thống nhất về bản chất của loại hình du 12 lịch này vẫn đang được tiếp tục trên nhiều diễn đàn quốc tế và trong nước. Ở góc nhìn hẹp, có thể thấy DLST là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép "du lịch" và "sinh thái" hay có thể hiểu là du lịch gắn với tự nhiên. Tuy nhiên không nên coi DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên vì thuật ngữ này có thể sử dụng trong tất cả các hoạt động du lịch được thực hiện ngoài thiên nhiên (ví dụ trượt tuyết, đi xe đạp leo núi, và bám vách đá leo núi). Những hoạt động du lịch này có thể có mà cũng có thể không thuộc loại hoạt động thân thiện với môi trường.
Đến năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra định nghĩa phản ánh khá đầy đủ về nội dung và chức năng của DLST. Theo đó, "DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương" [1]. Một định nghĩa đang thịnh hành khác đã liên kết các yếu tố văn hoá và môi trường một cách cụ thể hơn là định nghĩa do Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra. Định nghĩa này cho rằng “DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực" (Ceballos-Lascurain, 1996) [1].
Trong hội thảo về Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam (9/1999) đã đưa ra định nghĩa về DLST như sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [11]. Năm 2000, GS – TSKH Lê Huy Bá cũng đưa ra định nghĩa về DLST như sau: “DLST là loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt 13 chẽ, hài hóa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” [1]. Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [11].
Thực tế, đã có rất nhiều các định nghĩa khác về DLST, trong đó, Buckley (1994) đã tổng quát như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường thì mới được xem là DLST”. Trong đó yếu tố quản lý bền vững bao hàm cả nội dung phát triển cộng đồng [11]. Và trong hội thảo về DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam do Viện Nghiên cứu phát triển du lịch kết hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế tổ chức tại Hà Nội vào tháng 4/1998 cũng đã đưa ra quan điểm về DLST và xác định vị trí của DLST trong hệ thống các loại hình du lịch như sau: “DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”[19].1: Khái niệm và vị trí của loại hình DLST Nguồn gốc Các loại hình du lịch - Nghỉ dưỡng - Tham quan - Giáo dục Du lịch dựa vào - Mạo hiểm nâng cao thiên nhiên - Thể thao nhận thức Sinh (nature – based - Có trách thái - Thắng cảnh tourism) nhiệm bảo - Vui chơi giải trí tồn -….vvv Du lịch dựa vào - Tham quan nghiên cứu văn hóa - Hành hương lễ hội (culture – based -……vvvv tourism) - Hội nghị hội thảo - Hội chợ Công vụ - Quá cảnh - Tìm cơ hội đầu tư -……vvv 1. Các đặc trưng cơ bản của DLST Từ các định nghĩa trên có thể rút ra các đặc trưng cơ bản của DLST để phân biệt với các loại hình du lịch khác như sau: - DLST là loại hình du lịch dựa vào sự hấp dẫn của tự nhiên và văn hóa bản địa.
Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng sinh học và những nét văn hóa bản địa đặc sắc. Đặc biệt những khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, ít bị tác động bởi các hoạt động của con người. Chính vì vậy hoạt động DLST thường được diễn ra và thích hợp với các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên. 15 - Hỗ trợ bảo tồn và quản lý bền vững về sinh thái: Đây là đặc trưng khác biệt của DLST so với các loại hình du lịch khác.
Trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được quán lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch. Đó là lí do tại sao các nhà quản lý vườn quốc gia nên đặt ưu tiên cao nhất cho việc quản lý các hoạt động du lịch trong vườn quốc gia của họ. - Có hoạt động giáo dục và diễn giải môi trường. Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là đặc trưng cơ bản phân biệt DLST với loại hình du lịch thiên nhiên khác.
Nhờ có hoạt động giáo dục môi trường mà bản thân khách du lịch trở thành người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Vì vậy, giáo dục môi trường trong DLST có thể được coi là công cụ quản lý hữu hiệu cho các khu tự nhiên. - Hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương. DLST phải đảm bảo cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực.
Cộng đồng địa phương có thể tham gia vào những công việc vận hành DLST trên phương diện cung cấp kiến thức, kinh nghiệm thực tế, các dịch vụ và các sản phẩm phục vụ khách. Những lợi ích này nhất thiết phải lớn hơn sự trả giá về môi trường và văn hóa – xã hội nảy sinh từ hoạt động du lịch mà cộng đồng địa phương phải gánh chịu. - Thỏa mãn nhu cầu về kinh nghiệm du lịch cho du khách. Khách DLST thường có mong muốn được trải nghiệm trong thiên nhiên và mức độ đáp ứng nhu cầu này sẽ thể hiện chất lượng của hoạt động DLST.
Vì vậy, các dịch vụ du lịch làm hài lòng du khách, về mặt trải nghiệm thiên nhiên chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn. Các nguyên tắc của DLST DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững. Các nguyên tắc được đảm bảo trong DLST là các nguyên tắc không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, điều hành mà còn có cả những hướng dẫn viên DLST. 16 Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thuộc Tổng cục du lịch đã tổng kết thành 4 nguyên tắc cơ bản cho hoạt động DLST như sau : - Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn - Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái - Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng - Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương 1.
Những yêu cầu cơ bản để phát triển DLST a. Có sự tồn tại các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology). Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu.
đó là các hệ sinh thái (eco- systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường). Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (natural reserve), đặc biệt ở các VQG (national park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn 17 tại của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism ) hoặc các trang trại (farm tuorism) điển hình.
Hướng dẫn viên phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương - Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên.